Thông Điệp Caritas In Veritate – Yêu Thương Trong Sự Thật
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI gửi
Các Vị Giám Mục,
Linh Mục và Phó Tế,
Tu Sĩ Nam Nữ
Tín Hữu Giáo Dân
Và Tất Cả Thiện Chí Nhân
Về Việc Phát Triển Toàn Vẹn Con Người
Trong Bác Ái và Chân Lý
Dẫn Nhập
1. Yêu thương trong sự thật được Chúa Giêsu Kitô chứng thực bằng đời sống trần gian và nhất là bằng cuộc tử nạn và phục sinh của Người, là lực đẩy chính yếu cho việc đích thực phát triển của hết mọi người và toàn thể nhân loại. Yêu thương – caritas – là một quyền lực đặc biệt thúc đẩy con người đến chỗ muốn can đảm và quảng đại dấn thân vào lãnh vực công lý và hòa bình. Yêu thương là một quyền lực được bắt nguồn từ Thiên Chúa là Tình Yêu Hằng Hữu và là Chân Lý Tuyệt Đối. Mỗi người đều tìm thấy sự thiện của mình nơi việc gắn bó với dự án của Thiên Chúa đối với họ, để trọn vẹn hiện thực dự án ấy, ở chỗ, nơi dự án này, họ tìm thấy sự thật, và nhờ việc gắn bó với sự thật ấy họ được trở nên tự do (cf Jn 8:22). Bởi thế, việc bênh vực sự thật, việc khiêm tốn và xác tín bày tỏ sự thật và việc làm chứng cho sự thật bằng đời sống là những hình thức tất yếu và bất khả thiếu của yêu thương. Thật thế, yêu thương thì “hân hoan trong sự thật” (1Cor 13:6). Tất cả mọi người đều cảm thấy một động lực bên trong thúc đẩy yêu thương một cách chuyên chính: yêu thương và sự thật không bao giờ hoàn toàn loại bỏ nhau, vì chúng là ơn gọi được Thiên Chúa cấy trong tâm trí của hết mọi con người. Việc tìm kiếm yêu thương và chân lý được Chúa Giêsu Kitô thánh tẩy và giải thoát khỏi tình trạng bần cùng do nhân loại chúng ta mang đến cho nó, và Người mạc khải cho chúng ta thấy nơi tất cả tầm vóc của nó cái khởi động của yêu thương cùng với dự án cho một sự sống đích thực được Thiên Chúa sửa soạn cho chúng ta. Trong Chúa Kitô, yêu thương trong sự thật trở nên Dung Nhan Bản Vị của Người, một ơn gọi đối với chúng ta trong việc yêu thương anh chị em của chúng ta trong chân lý của dự án Người. Thật vậy, Người chính là Sự Thật (cf Jn 14:6).
2. Yêu thương là tâm điểm của giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Hết mọi thứ trách nhiệm và hết mọi cuộc dấn thân đều được sáng tỏ bởi giáo huấn xuất phát từ yêu thương là tổng hợp toàn thể Lề Luật như Chúa Giêsu dạy này (cf Mt 22:36-40). Yêu thương là những gì cống hiến bản chất thực sự cho mối liên hệ riêng tư với Thiên Chúa cũng như với tha nhân; nó là nguyên lý chẳng những của các mối tiểu liên hệ (với bạn bè, với các phần tử trong gia đình hay trong những nhóm nhỏ) mà còn của cả những mối đại liên hệ nữa (những liên hệ về xã hội, kinh tế và chính trị). Đối với Giáo Hội, được Phúc Âm hướng dẫn, thì yêu thương là tất cả mọi sự, vì, như Thánh Gioan dạy (cf 1Jn 4:8) và như tôi đã nhắc lại trong bức Thông Điệp thứ nhất “Thiên Chúa là Tình Yêu” của tôi, hết mọi sự đều bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa, hết mọi sự đều được tình yêu hình thành, hết mọi sự đều hướng về tình yêu. Tình yêu là tặng ân cao cả nhất của Thiên Chúa ban cho loài người. Tình yêu là lời hứa của Ngài và là niềm hy vọng của chúng ta.
Tôi biết được những cách thức yêu thương đã và đang tiếp tục bị hiểu sai và bị mất hết ý nghĩa, dẫn đến nguy cơ bị dẫn giải lệch lạc, tách khỏi cuộc sống đạo lý, và bị coi thường ở bất cứ trường hợp nào. Trong những lãnh vực về xã hội, pháp lý, văn hóa, chính trị và kinh tế – những môi trường dám bị ảnh hưởng nhất bởi mối nguy hiểm này – yêu thương dễ bị loại trừ đi như là những gì không thích đáng để dẫn giải và định hướng cho trách nhiệm về luân lý. Bởi thế, cần phải liên kết yêu thương với sự thật, chẳng những theo thứ tự của chúng, như được Thánh Phaolô vạch ra, về veritas in caritate – sự thật trong yêu thương (Eph 4:15), mà còn theo thứ tự ngược lại và bổ túc cho nhau của caritas in veritate – yêu thương trong sự thật. Chân lý là những gì cần phải tìm kiếm, gặp thấy và thể hiện trong “công cuộc” của yêu thương, thế nhưng, về phần mình, yêu thương cũng cần phải được hiểu biết, khẳng định và thực hành theo ánh sáng của chân lý. Nhờ đó chúng ta mới chẳng những phục vụ cho yêu thương được soi động bởi chân lý, mà còn làm cho chân lý trở thành khả tín, khi chứng thực cái quyền lực thu phục và xác thực của nó nơi hoàn cảnh cụ thể của đời sống xã hội. Ngày nay đây không phải là một vấn đề nhỏ, trong một môi trường về xã hội và văn hóa đang tương đối hóa chân lý, thường ít lắng nghe nó và cho thấy càng ngày càng ngần ngại trong việc công nhận việc hiện hữu của nó.
3. Nhờ mối liên hệ chặt chẽ này với sự thật, yêu thương mới được nhìn nhận như là một biểu lộ chân thực của nhân loại và như là một yếu tố có tấm vóc hết sức quan trọng trong những liên hệ của loài người, bao gồm cả những liên hệ có bản chất quần chúng. Yêu thương chỉ chiếu tỏa trong sự thật, chỉ trong sự thật yêu thương mới được sống một cách chân thực mà thôi. Sự thật là ánh sáng cống hiến ý nghĩa và giá trị cho yêu thương. Ánh sáng đó vừa là ánh sáng của lý trí vừa là ánh sáng của đức tin, nhờ đó trí khôn mới đạt được sự thật tự nhiên và siêu nhiên của yêu thương, ở chỗ, nó thấu triệt được ý nghĩa của nó là một tặng ân, một chấp nhận và một hiệp thông. Không có sự thật, yêu thương thoái hóa thành những gì có tính cách cảm tình. Tình yêu trở thành một cái vỏ rỗng không, một cái vỏ cần được làm đầy một cách độc đoán. Trong một nền văn hóa phi chân lý, thì đây là một mối nguy cơ sống còn thách đố yêu thương. Trở thành mối ngon cho những cảm xúc và ý nghĩ chủ quan tùy ý, chữ “yêu thương” đang bị lạm dụng và bóp méo cho tới độ nó trở thành những gì phản ngược. Sự thật là những gì giải thoát yêu thương khỏi những giam cầm của một thứ duy cảm xúc làm cho nó hụt hẫng đi những gì về liên hệ và xã hội, cũng như của một thứ duy tín làm cho nó mất đi bầu khí nhân bản và vũ trụ. Trong chân lý, yêu thương phản ảnh chiều kích tư riêng nhưng công khai của niềm tin tưởng vào Thiên Chúa của Thánh Kinh, Đấng vừa là Agápe vừa là Lógos: Đức Ái và Chân Lý, Yêu Thương và Ngôi Lời.4. Nhờ được đầy sự thật yêu thương mới có thể được hiểu một cách phong phú về những giá trị của nó, nó có thể được chia sẻ và truyền đạt. Thật thế, sự thật là lógos cái tạo nên diá-logos, và vì thế mới có vấn đề truyền thông và hiệp thông. Sự thật, nhờ giúp cho con người nam nữ có thể gạt ra ngoài những ý nghĩ và cảm tưởng chủ quan của mình, khiến họ vượt ra ngoài những giới hạn về văn hóa và lịch sử và cùng nhau thẩm định giá trị cùng bản chất của các sự vật. Sự thật hướng chúng ta về và liên kết lý trí của chúng ta trong lógos của tình yêu: đó là việc loan báo và chứng từ về yêu thương của Kitô giáo. Trong bối cảnh về xã hội và văn hóa hiện nay, một bối cánh có đầy những khuynh hướng muốn tương đối hóa sự thật, thì việc thực hành yêu thương trong sự thật là những gì giúp cho con người hiểu rằng việc gắn bó với những giá trị của Kitô giáo chẳng những hữu dụng mà còn thiết yếu cho việc xây dựng một xã hội tốt đẹp cũng như cho việc thực sự phát triển toàn vẹn con người. Một Kitô giáo của yêu thương phi sự thật sẽ trở thành một thứ giao hoán không nhiều thì ít với một loạt những cảm tình tốt lành, hữu dụng cho việc gắn bó về xã hội, nhưng chẳng thích đáng bao nhiêu. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ không còn chỗ đứng thực sự nào nữa trên thế giới này. Không có sự thật thì yêu thương bị giam hãm vào một lãnh vực hẹp hòi trống vắng của các mối liên hệ. Nó bị loại trừ khỏi những dự án và những tiến trình cổ võ việc phát triển con người ở tầm mức toàn cầu, trong cuộc trao đổi giữa kiến thức và hành động.
5. Caritas là tình yêu lãnh nhận và tặng ban. Nó là “ân sủng” (cháris). Nó bắt nguồn từ tình Cha yêu Con trong Thánh Thần. Tình yêu từ Con mà đến với chúng ta. Nó là tình yêu sáng tạo, nhờ đó chúng ta mới hiện hữu; nó là tình yêu cứu chuộc, nhờ đó chúng ta mới được tái tạo. Tình yêu được mạc khải và hiện thực nhờ Chúa Kitô (cf Jn 13:1) và “tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần” (Rm 5:5). Là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, con người nam nữ trở thành những chủ thể của yêu thương, họ được kêu gọi để biến mình thành những dụng cụ của ân sủng, trong việc tuôn đổ tình yêu của Thiên Chúa cũng như trong việc đan kết các mạng lưới của tình yêu thương.
Cái động tính này của tình yêu thương được lãnh nhận và tặng ban là những gì làm xuất phát giáo huấn của Giáo Hội về xã hội, đó là caritas in veritate in re sociali: việc loan truyền sự thật về tình yêu của Chúa Kitô trong xã hội. Giáo huấn này phục vụ cho tình yêu thương nhưng điểm tựa của nó là chân lý. Chân lý là những gì bảo trì và thể hiện quyền lực giải phóng của yêu thương trong các biến cố hằng đổi thay của lịch sử. Nó đồng thời cũng là chân lý của đức tin và của lý trí, cả ở những gì khác biệt cũng như đồng qui nơi hai lãnh vực tri thức này. Việc phát triển, tình trạng phúc lợi của xã hội, việc tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho những vấn đề kinh tế xã hội trầm trọng đang bủa vây nhân loại, tất cả đều cần đến sự thật này. Cái mà chúng thậm chí cần hơn nữa đó là sự thật ấy cần phải được mến chuộng và chứng tỏ. Không có sự thật, thiếu lòng tin tưởng và yêu mến đối với những gì là chân thực thì không có vấn đề lương tâm và trách nhiệm xã hội, và hoạt động xã hội cuối cùng đi đến chỗ phục vụ những lợi lộc riêng tư và lý lẽ của quyền lực, mà hậu quả là tình trạng phân mảnh xã hội, nhất là trong một xã hội toàn cầu hóa ở những lúc khốn khó như hiện nay.
6. “Caritas in veritate” là nguyên tắc được giáo huấn về xã hội của Giáo Hội căn cứ, một nguyên tắc mặc hình thức cụ thể theo những qui chuẩn chi phối hành động luân lý. Tôi muốn nói đặc biệt tới hai trong qui chuẩn này, hai qui chuẩn liên quan tới việc quyết tâm phát triển trong một xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa, đó là công lý và công ích.
Trước hết là công lý. Ubi societas, ibi ius: hết mọi xã hội đều phác họa ra hệ thống công lý của mình. Yêu thương là những gì vượt ra ngoài công lý, vì yêu là cho, là cống hiến những gì là “của tôi” cho người khác; thế nhưng yêu thương không bao giờ thiếu công lý là những gì nhắc nhở chúng ta trao tặng cho người khác những gì là “của họ”, những gì thuộc về họ bởi hữu thể của họ hay hành động của họ. Tôi không thể “trao tặng” những gì là của tôi cho người khác nếu trước tiên không trao ban cho họ những gì liên quan tới họ trong công lý. Nếu chúng ta yêu thương người khác bằng charity, thì trước hết chúng ta là kẻ chân chính đối với họ. Công lý không phải là những gì ngoại tại với charity, không phải là một đường lối thay thế hay song song với charity: công lý là những gì bất khả phân ly với charity [1], và là nội tại cho charity. Công lý là đường lối nống cốt của charity, hay, theo lời của Đức Phaolô VI, “mức độ tối thiểu” của nó [2], một yếu tố trọn vẹn của một tình yêu thương “bằng việc làm và trong chân lý” (1Jn 3:18) như Thánh Gioan kêu gọi chúng ta. Ngược lại, charity cần đến công lý, ở chỗ nhìn nhận và tôn trọng những quyền lợi hợp lý của cá nhân cũng như của các dân tộc. Nó cố gắng xây dựng thành đô trần thế theo luâä lệ và công lý. Lại nữa, charity vượt trên công lý và hoàn trọn công lý theo lý lẽ của ban phát và thứ tha [3]. Thành đô trần thế này được cổ võ không phải thuần túy nhờ những liên hệ về quyền lợi và nghĩa vụ, nhưng ở một tầm mức thậm chí cao cả hơn và cốt yếu hơn nữa, nhờ ở những mối liên hệ có tính cách nhưng không, nhân hậu và hiệp thông. Charity luôn là những gì biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa nơi cả những liên hệ nhân loại nữa, nó cống hiến những giá trị về thần học và cứu độ cho tất cả những việc dấn thân cho công lý trên thế giới này.7. Một quan tâm quan trọng khác đó là công ích. Yêu thương ai tức là mong muốn thiện ích cho người đó và thực hiện những gì hiệu năng để có được thiện ích này. Ngoài thiện ích của cá nhân còn có một thiện ích liên hệ tới cuộc sống trong xã hội, đó là công ích. Nó là thiện ích của “tất cả chúng ta” là thành phần bao gồm cá nhân, gia đình và những nhóm môi giới cùng nhau tạo thành xã hội [4]. Nó là một thiện ích được tìm kiếm không phải vì nó mà là vì con người thuộc về cộng đồng xã hội và là thành phần chỉ có thể thực sự và hiệu năng theo đuổi thiện ích của mình trong nó. Việc mong muốn công ích và nỗ lực tìm kiếm nó là những gì công lý và yêu thương đòi hỏi. Việc biện hộ cho công ích, một đàng, là những gì tỏ ra quan tâm về nó, đàng khác, muốn đích thân giúp cho tính chất phức tạp của những tổ chức có được cấu trúc cho đời sống của xã hội về phương diện pháp lý, dân sự, chính trị và văn hóa, biến nó thành pólis hay “thành đô”. Chúng ta càng nỗ lực để bảo toàn công ích tương hợp với các nhu cầu thực sự của tha nhân, chúng ta càng yêu thương họ một cách hiệu năng hơn. Hết mọi Kitô hữu được kêu gọi để thực hành tình yêu thương ấy, một cách tương xứng với ơn gọi của mình và theo tầm ảnh hưởng của mình trong pólis – thành đô. Đó là đường lối về cơ cấu tổ chức – chúng ta cũng có thể gọi nó là đường lối chính trị – của yêu thương, cũng tuyệt vời và hiệu nghiệm như loại yêu thương trực tiếp gặp gỡ tha nhân, ở bên ngoài việc dàn xếp về cơ cấu tổ chức của pólis – thành đô. Được tác động bởi yêu thương, việc dấn thân cho công ích có một giá trị cao hơn là giá trị có được bởi một vị thế thuần túy trần tục và chính trị. Như tất cả mọi cuộc dấn thân khác cho công lý, việc dấn thân cho công ích có một chỗ đứng trong chứng từ của đức ái thần linh mở đường vào cõi vĩnh hằng qua hoạt động trần thế. Hoạt động trần gian của con người, khi được yêu thương tác động và duy trì, là những gì góp phần xây dựng thành đô hoàn vũ của Thiên Chúa là mục đích cho lịch sử của gia đình nhân loại. Trong một xã hội đang càng ngày càng toàn cầu hóa thì công ích cùng với nỗ lực chiếm lấy nó không thể không có những chiều kích của toàn thể gia đình nhân loại, tức là, cộng đồng của chư dân và chư quốc [5], ở chỗ khuôn đúc thành đô trần thế này trong hiệp nhất và hòa bình, mang lại cho nó ở một mức độ nào đó một thứ ngưỡng vọng và một thứ tiền thân của thành đô bất khả phân chia của Thiên Chúa.
8. Vào năm 1967, khi ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc – Populorum Progressio, vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã làm sáng tỏ đề tài quan trọng về việc phát triển của các dân tộc bằng ánh quang rạng ngời của chân lý cùng với ánh sáng dịu dàng của đức ái Chúa Kitô. Ngài dạy rằng đời sống trong Chúa Kitô là yếu tố thứ nhất và chính yếu của việc phát triển [6] và ngài ủy thác cho chúng ta công việc hành trình theo con đường phát triển bằng tất cả tâm can và toàn thể trí khôn của chúng ta [7], tức là bằng lòng nhiệt thành của yêu thương và đức khôn ngoan của sự thật. Chính sự thật nguyên khôi này về tình yêu của Thiên Chúa, ân sủng được ban xuống trên chúng ta, là những gì hướng cuộc sống của chúng ta tới việc trao tặng và làm cho nó có thể hy vọng cho một thứ “phát triển toàn thể con người và tất cả mọi người” [8], hy vọng về việc tiến bộ “từ những điều kiện kém nhân bản đến những tình trạng nhân bản hơn” [9], một tình trạng đạt được bằng cách thắng vượt những khó khăn bất khả tránh xẩy ra trong cuộc hành trình.
Ở một khoảng cách trên 40 năm từ khi ban hành bức Thông Điệp ấy, tôi muốn tỏ lòng tôn kính và vinh danh vị đại Giáo Hoàng Phaolô VI, bằng việc ôn lại các giáo huấn của ngài về việc phát triển toàn vẹn con người và góp phần vào đường lối đã được các giáo huấn ấy vạch định, để áp dụng chúng vào thời điểm hiện nay. Việc tiếp tục áp dụng này vào các trường hợp hiện đại được bắt đầu với Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis được Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II muốn ghi dấu 20 năm ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển Của Các dân Tộc. Cho đến bấy giờ, chỉ có Thông Điệp Rerum Novarum – Tân Sự được tưởng niệm theo cách thức như thế thôi. Giờ đây lại 20 năm nữa qua đi, tôi muốn bày tỏ niềm xác tín của tôi là Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc xứng đáng được coi là Thông Điệp “Tân Sự của thời hiện đại”, chiếu tỏa ánh sáng cho cuộc hành trình hướng tới mối hiệp nhất của nhân loại.
9. Yêu thương trong sự thật – caritas in veritate – là một thách đố lớn lao cho Giáo Hội trong một thế giới đang được toàn cầu hóa một cách gia tăng và tràn lan. Cái nguy cơ cho thời đại của chúng ta đó là tình trạng liên thuộc theo sự kiện của dân chúng và chư quốc lại không ăn khớp với việc tương tác về đạo lý của lương tâm và trí khôn là những gì có thể làm phát sinh tình trạng thực sự phát triển của con người. Chỉ trong tình yêu thương được soi sáng bởi ánh sáng của lý trí và niềm tin, mới có thể thực hiện các mục đích phát triển có giá trị nhân bản và nhân bản hóa hơn. Việc chia sẻ những thiện ích và những nguồn lợi là những gì xuất phát việc phát triển thực sự, không được bảo đảm nguyên bởi sự tiến bộ về kỹ thuật và những liên hệ của tiện ích, mà là bởi khả năng của yêu thương thắng vượt sự dữ bằng sự thiện (cf Rm 12:21), mở ra con đường dẫn tới việc hỗ tương về lương tâm cùng với quyền tự do.
Giáo Hội không có những giải pháp kỹ thuật để cống hiến và không muốn “pha mình một cách nào đó vào lãnh vực chính trị của các Quốc Gia” [11]. Tuy nhiên, Giáo Hội có một sứ vụ về sự thật để hoàn thành, ở mọi lúc và mọi nơi, cho một xã hội hợp với con người, với phẩm giá của họ, với ơn gọi của họ. Không có sự thật, thật là dễ bị rơi vào một thứ duy nghiệm và nhãn quan ngờ vực về đời sống, không thể tiến tới mức hành động, bởi thiếu quan tâm tới việc nắm vững các thứ giá trị – đôi khi cả đến những ý nghĩa – là những gì cần được sử dụng để phán đoán và điều khiến nó. Việc trung thành với con người đòi phải trung thành với một chân lý tự nó là bảo đảm cho tự do (cf Jn 8:32) và triển vọng của việc phát triển toàn vẹn con người. Đó là lý do Giáo Hội tìm kiếm chân lý, không ngừng loan báo chân lý và nhìn nhận chân lý ở bất cứ nơi nào chân lý tỏ hiện. Sứ vụ về chân lý này là một sứ vụ không bao giờ Giáo Hội lại từ khước. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội là một chiều kích đặc biệt của việc loan báo này: nó là một thứ phục vụ cho chân lý gioải thoát chúng ta. Cởi mở trước chân lý, chân lý từ bất cứ ngành kiến thức nào, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội lãnh nhận nó, ráp vào mối hiệp nhất những thứ phân mảnh thường chất chứa nó, và dàn xếp nó trong những mẫu sống liên lỉ đổi thay trong xã hội của chư dân và chư quốc [12].
Chương Một
Sứ Điệp của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc
10. Việc đọc lại Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hơn 40 năm được ban hành, mời gọi chúng ta hãy trung thành với sứ điệp của nó về yêu thương và chân lý, một sứ điệp được nhận định trong bối cảnh toàn diện đối với huấn quyền đặc biệt của Đức Phaolô VI, và tổng quát hơn, trong truyền thống của giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Hơn nữa, cũng cần phải thực hiện một cuộc thẩm định về những khía cạnh khác liên quan tới vấn đề phát triển ngày nay, so với 40 năm trước. Bởi thế, quan điểm đúng đắn là quan điểm của Truyền Thống đức tin tông đồ [13], một gia sản vừa cũ vừa mới, bằng không Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc sẽ chỉ là một văn kiện thiếu nền tảng – và những vấn đề liên quan tới việc phát triển sẽ trở thành những dữ kiện thuần túy về xã hội.
11. Việc ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc xẩy ra ngay sau khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, và trong những đoạn mở đầu của mình, thông điệp này đã nói rõ mối liên hệ chặt chẽ của mình với Công Đồng ấy [14]. Hai mươi năm sau, trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, Đức Gioan Phaolô II, về phần mình, đã nhấn mạnh đến mối liên hệ tốt đẹp của bức Thông Điệp trước đó này với Công Đồng, và nhất là với Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” [15]. Tôi cũng muốn nhắc lại nơi đây tầm quan trọng của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với bức Thông Điệp này của Đức Phaolô VI cũng như đối với toàn thể Huấn Quyền về xã hội sau đó của các vị Giáo Hoàng. Công Đồng này đã khảo sát một cách sâu xa hơn những gì bao giờ cũng thuộc về chân lý của đức tin, tức là Giáo Hội khi phục vụ Thiên Chúa là phục vụ thế giới trong yêu thương và chân lý. Đức Phaolô đã bắt đầu từ nhãn quan này để chuyển đạt hai sự thật quan trọng. Sự thật thứ nhất là toàn thể Giáo Hội, nơi tất cả hữu thể và hoạt động của mình – khi Giáo Hội công bố, khi Giáo Hội cử hành, khi Giáo Hội thực thi những công việc bác ái – đều dấn thân cổ võ việc phát triển toàn vẹn con người. Giáo Hội đóng một vai trò công khai bên trên và ở trên những hoạt động bác ái và giáo dục: ở chỗ, tất cả mọi năng lực Giáo Hội mang lại cho việc tiến bộ của nhân loại và tình huynh đệ đại đồng một khi Giáo Hội có thể thi hành trong một bầu khí tự do. Không phải là ít xẩy ra là quyền tự do này bị trở ngại bởi những ngăn cấm và bách hại, hay bị giới hạn khi việc hiện diện công khai của Giáo Hội bị biến thành những hoạt động bác ái của Giáo Hội mà thôi. Sự thật thứ hai đó là việc phát triển nhân loại thực sự liên quan tới toàn thể con người nơi từng chiều kích một [16].
Thiếu viễn ảnh về sự sống trường sinh, việc tiến bộ của con người trên thế giới này trở thành ngột ngạt. Bị đóng khung trong lịch sử, nó có nguy cơ trở thành một thứ thuần túy tích lũy giầu sang; nhân loại vì thế mất đi lòng can đảm phục vụ những thiện ích cao cả hơn, phục vụ những khởi động cao cả và vô vị lợi của đức bác ái phổ quát. Con người không phát triển bằng những quyền lực của mình, hay việc phát triển không thể nào chỉ đơn thuần truyền lại cho họ. Theo giòng lịch sử, người ta thường chủ trương rằng việc tạo nên các cơ cấu tổ chức là những gì đủ để bảo đảm cho việc đáp ứng quyền phát triển của con người. Tiếc thay, người ta đã đặt quá nhiều tin tưởng vào các cơ cấu tổ chức ấy, như thể chúng có thể tự động đạt được mục tiêu mơ ước ấy. Thực ra tự các cơ cấu tổ chức vẫn không đủ, vì việc phát triển toàn diện con người chính yếu là một ơn gọi, và vì thế nó bao gồm việc hết mọi người tự do lãnh nhận trách nhiệm trong tình đoàn kết. Ngoài ra, việc phát triển này cần phải có một nhãn quan siêu việt về con người, nó cần Thiên Chúa, ở chỗ, thiếu Ngài, việc phát triển một là bị chối từ hay là bị hoàn toàn lọt vào tay con người là thành phần có khuynh hướng nghĩ rằng họ có thể tự cứu độ nhưng cuối cùng là cổ võ một hình thức phát triển phi nhân bản hóa. Chỉ nhờ được gặp gỡ Thiên Chúa chúng ta mới có thể thấy nơi người khác một cái gì đó không phải chỉ là một tạo vật khác [17], có thể nhận ra hình ảnh thần linh nơi người khác, nhờ đó thực sự tiến đến chỗ khám phá ra họ và trưởng thành trong một tình yêu “trở nên mối quan tâm và chăm sóc ccho người khác” [18].
12. Mối liên hệ giữa Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và Công Đồng Chung Vaticanô II không có nghĩa là huấn quyền về xã hội của Đức Phaolô VI đánh dấu một thứ phân ly với giáo huấn của các vị Giáo Hoàng trước ngài, vì Công Đồng này là cơ hội giúp khai thác sâu xa hơn giáo huấn này một cách liên tục trong đời sống của Giáo Hội [19]. Theo chiều hướng ấy thì vấn đề sáng tỏ không ở tại những thứ phân chia phụ thuộc trừu tượng nào đó, những phân chia áp dụng các thứ loại vào giáo huấn xã hội của Giáo Hoàng không liên quan gì tới nó. Đây không phải là trường hợp của hai thứ phân loại học liên quan tới giáo huấn về xã hội khác nhau, một trước công đồng và một sau công đồng, trái lại, chỉ có một giáo huấn duy nhất, liên lỉ và đồng thời cũng luôn mới [20]. Đây không phải là vấn đề chú ý tới những tính chất đặc biệt của bức Thông Điệp này hay bức thông điệp kia, của giáo huấn Giáo Hoàng này hay giáo hoàng kia, nhưng lại hoàn toàn không lưu ý tới tính chất liên kết nơi toàn thể cấu trúc của giáo huấn [21].
Tính chất liên kết này không có nghĩa là một hệ thống khép kín, trái lại, nó có nghĩa là trung thành một cách linh động với thứ ánh sáng đã lãnh nhận. Giáo huần về xã hội của Giáo Hội bằng một thứ ánh sáng bất biến đang chiếu soi những vấn đề mới liên lỉ xuất hiện [22]. Điều này là những gì bảo toàn tính chất thường hằng và lịch sử của “gia sản” giáo huấn này [23], một gia sản, bởi những đặc tính đặc biệt của mình, là yếu tố và là thành phần nơi Truyền Thống hằng tồn tại của Giáo Hội [24]. Giáo huấn về xã hội được thiết lập trên nền tảng do các Tông Đồ truyền lại cho các Giáo Phụ của Giáo Hội, sau đó được các vị đại tiến sĩ của Hội Thánh lãnh nhận và dẫn giải sâu rộng hơn. Giáo huấn này tối hậu là những gì hướng tới Con Người Mới, tới “Adong mới là Đấng trở thành một thần linh ban sự sống” (1Cor 15:45), nguyên lý của đức ái “không bao giờ cùng” (1Cor 13:8). Nó được chứng thực bởi các thánh nhân cũng như bởi những ai hiến đời mình cho Chúa Kitô Chúa Cứu Thế của chúng ta trong lãnh vực công lý và hòa bình. Nó thể hiện công việc ngôn sứ của các vị Giáo Hoàng trong việc hướng dẫn tông đồ cho Giáo Hội Chúa Kitô cũng như trong việc nhận thức các đòi hỏi mới của việc truyền bá phúc âm hóa. Vì những lý do ấy, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, theo chiều hướng cao cả của Truyền Thống, ngày nay vẫn còn đang nói với chúng ta.
13. Ngoài mối liên hệ quan trọng của mình với toàn thể giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc cũng liên hệ chặt chẽ với toàn thể huấn quyền của Đức Phaolô VI, nhất là huấn quyền về xã hội của ngài. Huấn quyền của ngài thực sự là một giáo huấn về xã hội có tầm vóc thật quan trọng, ở chỗ, ngài nhấn mạnh tới tầm quan trọng bất khả thiếu của Phúc Âm trong việc xây dựng xã hội hợp với tự do và công lý, theo một viễn ảnh lý tưởng và lịch sử của một nền văn minh được yêu thương tác động. Đức Phaolô VI đã rõ ràng hiểu được rằng vấn đề xã hội đã trở thành toàn cầu [25], và ngài đã nắm bắt được mối tương liên giữa cái động lực hướng về việc hiệp nhất nhân loại với lý tưởng Kitô giáo về một gia đình chư dân duy nhất trong đoàn kết và huynh đệ. Theo quan niệm này về việc phát triển, được hiểu theo chiều hướng nhân loại và Kitô giáo, ngài đã nhận thấy tâm điểm sứ điệp xã hội của Giáo Hội, và ngài đã lấy đức ái Kitô giáo làm năng lực chính trong việc phục vụ phát triển. Được tác động bởi ước muốn làm cho tình yêu của Chúa Kitô hoàn toàn trở thành hữu hình với con người nam nữ hiện đại, Đức Phaolô VI đã bàn giải các vấn đề về đạo lý một cách mạnh mẽ, không đầu hàng trước những yếu hèn về văn hóa trong thời đại của ngài.
14. Trong Tông Thư Octogenima Adveniens năm 1971, Đức Phaolô VI đã chia sẻ về ý nghĩa của chính trị cũng như về mối nguy hiểm bởi những nhãn quan không tưởng và lý tưởng gây nguy hiểm cho những chiều kích đạo lý và nhân bản của nó. Đó là những vấn đề liên hệ chặt chẽ với việc phát triển. Tiếc thay, những ý hệ tiêu cựa này vẫn tiếp tục triển nở. Đức Phaolô VI đã cảnh giác ý hệ về kỹ thuật rất thịnh hành ngày nay [26], ngài hoàn toàn thấy được cái nguy hiểm to tát của việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho một mình kỹ thuật, vì như thế nó sẽ thiếu mất hướng đi. Kỹ thuật, tự mình, là một cái gì bất ổn. Một mặt, nếu một ngày nào đó xu hướng về việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho kỹ thuật, mặt khác chúng ta lại đang chứng kiến thấy một tình trạng đột phát của các thứ ý hệ chối bỏ in toto – hoàn toàn chính giá trị của phát triển, thấy phát triển như là những gì hoàn toàn phản nhân bản và chỉ là một nguồn gây ra tình trạng thoái hóa. Điều này dẫn tới chỗ phủ nhận, chẳng những đường lối méo mó và bất chính đôi khi tiến bộ được hướng dẫn, mà còn cả chính những khám phá khoa học, những khám phá, nếu sử dụng đàng hoàng, cũng có thể trở thành cơ hội tăng trưởng của tất cả mọi người. Ý nghĩ về một thế giới không phát triển cho thấy thiếu niềm tin tưởng nơi con người cũng như nơi Thiên Chúa. Bởi thế, nó là một sai lầm trầm trọng trong việc coi thường khả năng của con người làm chủ những lệch lạc của phát triển hay coi thường sự kiện là con người tự bản chất hướng về “cái là hơn nữa”. Việc lý tưởng hóa tiến bộ về kỹ thuật, hay chiêm ngưỡng cái không tưởng của một thứ trở về với tình trạng tự nhiên nguyên thủy của con người, hay hai cách thức đối nghịch nhau của vấn đề tách vấn đề tiến bộ khỏi giá trị luân lý của nó và bởi đó khỏi cả trách nhiệm của chúng ta.15. Có hai văn kiện của Đức Phaolô VI không trực tiếp liên quan tới giáo huấn về xã hội, đó là Thông Điệp Sự Sống Con Người – Humanae Vitae (25/7/1968) và Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm – Evangelii Nuntiandi (8/12/1975), có một tầm vóc rất quan trọng trong việc phác tả trọn vẹn ý nghĩa nhân bản của việc phát triển được Giáo Hội chủ trương. Bởi thế, cần phải lưu ý tới hai bản văn này theo chiều hướng của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các dân Tộc.
Thông Điệp Sự Sống Con Người nhấn mạnh đến ý nghĩa của tính dục về cả tính chất duy nhất và truyền sinh của nó, bởi thế, nó đặt vào ngay nền tảng của xã hội đôi phối ngẫu là con người nam nữ chấp nhận nhau một cách khác biệt và tương khuyết: một đôi phối ngẫu, do đó, hướng về sự sống [27]. Đây không phải là vấn đề thuần luân lý cá nhân: Thông Điệp Sự Sống Con Người cho thấy những liên hệ chặt chẽ giữa đạo lý sự sống với đạo lý xã hội, mở ra một lãnh vực mới trong giáo huấn của huấn quyền là những gì dần dần đã được bày tỏ ở hàng loạt những văn kiện, mới nhất là Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống – Evangelium Vitae [28] của Đức Gioan Phaolô II. Giáo Hội mãnh liệt chủ trương nắm giữ mối liên hệ giữa đạo lý về sự sống và đạo lý về xã hội, hoàn toàn nhận thức rằng “một xã hội thiếu những nền tảng vững chắc, khi mà, một mặt nó xác nhận những giá trị như phẩm giá của con người, công lý và hòa bình, mặt khác, lại hết sức tác hành phản lại bằng việc cho phép hay dung túng một số đường lối hạ giá và phạm tới sự sống, nhất là khi nó yếu kém hay bị cho ra rìa” [29].
Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm, về phần mình, rất gắn liền với việc phát triển, ở chỗ, theo Đức Phaolô VI nói, “việc truyền bá phúc âm hóa sẽ không hoàn trọn nếu nó không lưu ý tới sự tương tác giữa Phúc Âm với đời sống cụ thể của con người, cả lãnh vực tư riêng lẫn xã hội” [30]. “Giữa việc truyền bá phúc âm hóa và việc tiến bộ nhân bản – phát triển và tự do – thật sự là có một mối liên hệ sâu xa” [31]: trên căn bản của cái minh thức này, Đức Phaolô VI tỏ tường trình bày cho thấy mối liên hệ giữa việc loan báo Chúa Kitô và việc tiến bộ của cá nhân trong xã hội. Chứng từ cho đức ái của Chúa Kitô, qua các hoạt động về công lý, hòa bình và phát triển, thuộc về và là phân tố của việc truyền bá phúc âm hóa, vì Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta, quan tâm tới toàn thể con người. Những giáo huấn quan trọng này làm nên nền tảng cho khía cạnh truyền giáo [32] nơi giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, một giáo huấn là yếu tố thiết yếu của việc truyền bá phúc âm hóa [33]. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội loan truyền và làm chứng cho đức tin. Nó là một dụng cụ và là một cơ cấu bất khả thiếu cho viện đào luyện đức tin.
16. Trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, Đức Phaolô VI dạy rằng tiến bộ, theo nguồn gốc và yếu tính của nó, trước hết và trên hết, là một ơn gọi: “theo ý định của Thiên Chúa, hết mọi người được kêu gọi phát triển và hoàn trọn bản thân mình, vì hết mọi đời sống là một ơn gọi” [34]. Đó là những gì cống hiến tính cách hợp lý cho việc Giáo Hội tham gia vào tất cả vấn đề phát triển. Nếu phát triển chỉ được quan tâm về các khía cạnh về kỹ thuật của đời sống con người, chứ không phải ở ý nghĩa của cuộc con người hành trình qua giòng lịch sử cùng với đồng loại của mình, hay không nhận ra mục tiêu của cuộc hành trình ấy, thì Giáo Hội sẽ không có quyền nói về nó. Đức Phaolô VI, như Đức Lêô XIII trước ngài trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum [35], đã biết rằng ngài thi hành một nhiệm vụ thích đáng với vai trò chiếu giãi ánh sáng Phúc Âm về các vấn đề xã hội thuộc thời đại của ngài [36].
Khi coi phát triển là một ơn gọi tức nhìn nhận, một mặt, phát triển xuất phát từ một ơn gọi siêu việt, mặt khác, tự mình nó không thể nào có được ý nghĩa tối hậu của nó. Không phải là vô tình mà chữ “ơn gọi” cũng được xuất hiện ở mộït đoạn khác của Thông Điệp này, đó là đoạn: “Không có nhân bản thực sự nếu không hướng tới Đấng Tuyệt Đối và ý thức về một ơn gọi mang lại cho đời sống con người ý nghĩa đích thực của nó” [37]. Nhãn quan về việc phát triển này là tâm điểm của Thông Điệp về Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và nó chi phối tất cả những suy tư của Đức Phaolô VI về tự do, về sự thật và về bác ái trong vấn đề phát triển. Nó cũng là lý do chính cho thấy tại sao bức Thông Điệp này vẫn còn hợp thời ở thời đại của chúng ta đây.
17. Ơn gọi là một mời gọi cần được tự do và sáng suốt đáp ứng. Việc phát triển toàn diện con người bao hàm quyền tự do hữu trách của cá nhân cũng như của các dân tộc: không có một cấu trúc nào có thể bảo đảm việc phát triển vượt lên trên và ở trên trách nhiệm của con người. “Những kiểu chủ trương cứu thế hứa hẹn nhưng tạo nên những ảo ảnh” [38] bao giờ cũng xuất hiện ở chỗ chối bỏ chiều kích siêu việt của việc phát triển, cho rằng việc phát triển hoàn toàn nằm trong tay của chúng. Thứ bảo đảm sai lầm này trở thành một thứ yếu hèn, vì nó liên quan tới việc biến con người thành những gì lụy thuộc, thành phương tiện thuần túy cho việc phát triển, trong khi đó lòng khiêm nhượng của ai chấp nhận ơn gọi lại giúp họ thực sự tự lập, vì nó làm cho họ được tự do. Đức Phaolô VI đã dám chắc là các trở ngại và những hình thức điều kiện hóa là những gì kềm giữ vấn đề phát triển, thế nhưng ngài cũng tin tưởng rằng “mỗi một người, cho dù những ảnh hưởng ấy có tác dụng nơi họ ra sao, vẫn là tác nhân chính trong việc thành bại của họ” [39]. Cái tự do này liên quan tới một kiểu mẫu phát triển chúng ta đang bàn đến, thế nhưng nó cũng ảnh hưởng đến các tình trạng của vấn đề chậm phát triển đang xẩy ra không do tình cờ hay nhu cầu lịch sử, mà là do trách nhiệm của con người. Đó là lý do tại sao “các dân tộc đang đói khổ tham thiết kêu gọi các dân tộc được phúc sung túc” [40]. Điều này nữa cũng là một ơn gọi, một lời mời gọi được những chủ thể tự do ngỏ cùng các chủ thể tự do khác liên quan tới vấn đề đảm nhận trách nhiệm chung. Đức Phaolô VI đã có một cảm quan sắc bén về tầm quan trọng của những cấu trúc và tổ chức kinh tế, thế nhưng ngài cũng có cùng một cảm quan rõ ràng về bản chất của chúng như là những dụng cụ của tự do con người. Chỉ khi nào có tự do phát triển mới có tính cách nhân bản toàn vẹn; chỉ khi nào có một bầu khí của tự do sáng suốt phát triển mới gia tăng một cách thỏa đáng.
18. Ngoài việc đòi hỏi quyền tự do, việc phát triển toàn vẹn con người như là một ơn gọi cũng đòi phải tôn trọng sự thật nữa. Ơn gọi tiến bộ thúc đẩy chúng ta “làm hơn, biết hơn và có hơn để là hơn” [41]. Thế nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là: cái “là hơn” nghĩa là gì? Đức Phaolô VI đã trả lời câu hỏi này bằng việc nói đến phẩm chất thiết yếu của việc phát triển “chân thực”, ở chỗ nó cần phải “toàn vẹn, tức là nó phải cổ võ sự thiện của hết mọi người và của con người trọn vẹn” [42]. Giữa những quan niệm về nhân loại học đối chọi nhau đã xẩy ra trong xã hội ngày nay, thậm chí còn hơn cả thời của Đức Phaolô VI, quan niệm của Kitô giáo có một đặc tính đặc biệt trong việc chủ trương và biện hộ cho giá trị nhưng không của con người cũng như ý nghĩa cho vấn đề phát triển của họ. Ơn gọi Kitô giáo về vấn đề phát triển đó là giúp vào việc cổ võ tình trạng tiến bộ của tất cả mọi người và con người trọn vẹn. Như Đức Phaolô VI đã viết: “Những gì chúng ta cho rằng quan trọng đó là con người, từng người và từng nhóm người, và thậm chí chúng ta bao gồm toàn thể nhân loại nữa” [43]. Trong việc cổ võ phát triển, đức tin Kitô giáo không cậy dựa vào đặc quyền hay những thế lực, thậm chí cũng không cậy dựa vào những công nghiệp của thành phần Kitô hữu (cho dù những thứ công nghiệp này đã hiện hữu và tiếp tục hiện hữu theo những hạn hữu tự nhiên của chúng) [44], thế nhưng vào một mình Chúa Kitô là Đấng hết mọi ơn gọi chân thực đối với việc phát triển toàn vẹn con người cần phải hướng về. Phúc Âm là nền tảng cho việc phát triển, vì trong Phúc Âm, Chúa Kitô, “trong chính việc mạc khải về mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Cha, hoàn toàn tỏ cho nhân loại biết về họ” [45]. Được truyền dạy bởi Chúa của mình, Giáo Hội xem xét các dấu chỉ thời đại và giải thích chúng, cống hiến cho thế giới “những gì Giáo Hội có như là thuộc tình đặc biệt của mình, đó là một thứ nhãn quan toàn cầu về con người và về nhân loại” [46]. Chính vì Thiên Chúa âm vang tiếng “được” với con người [47] mà con người không thể không cởi mở trước ơn gọi thần linh trong việc theo đuổi việc phát triển của mình. Sự thật về sự phát triển bao gồm tính chất toàn vẹn của nó, ở chỗ, nếu nó không bao gồm trọn vẹn con người và hết mọi người, nó không phải là việc phát triển thực sự. Đó là sứ điệp chính yếu của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hiệu lực cho ngày nay và mọi thời đại. Việc phát triển toàn vẹn con người về phương diện tự nhiên, như một đáp ứng ơn gọi từ Thiên Chúa Hóa Công [48], đòi hỏi sự viên trọn bản thân “theo chiều hướng nhân bản siêu việt cống hiến cho con người tầm mức trọn hảo khả hữu nhất của họ: đó là mục tiêu cao cả nhất của việc phát triển bản thân con người” [49]. Thế nên, ơn gọi của Kitô giáo đối với việc phát triển này áp dụng cho cả lãnh vực tự nhiên lẫn lãnh vực siêu nhiên; và đó là lý do tại sao “một khi Thiên Chúa bị khuất lấp đi thì khả năng của chúng ta trong việc nhận thức về trật tự, mục đích và ‘sự thiện’ tự nhiên bị suy yếu tàn tạ” [50].
19. Sau hết, nhãn quan về việc phát triển như là một ơn gọi bao gồm cả tâm điểm của yêu thương trong việc phát triển này. Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã vạch ra rằng các nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển không phải chính yếu ở tại lãnh vực vật chất. Ngài đã mời gọi chúng ta tìm kiếm những nguyên nhân này ở những chiều kích khác của con người: trước hết, ở ý muốn là những gì thường lơ là các nhiệm vụ của tình đoàn kết; tiếp theo là trong ý nghĩ là những gì không luôn luôn cống hiến hướng đi đúng đắn cho ý muốn. Bởi thế, trong việc theo đuổi việc phát triển, cần phải có “những ý nghĩ sâu xa và suy tư của một con người khôn ngoan trong việc tìm kiếm một chiều hướng nhân bản mới có thể giúp con người tân tiến tìm gặp bản thân mình một lần nũa” [51]. Thế nhưng, đó vẫn chưa phải là tất cả. Tình trạng chậm phát triển thậm chí còn một nguyên nhân quan trọng hơn là thiếu hụt những ý nghĩ sâu xa, đó là “sự thiếu tình huynh đệ giữa các cá nhân và các dân tộc” [52]. Có thể nào chiếm được tình huynh đệ này bằng nguyên nỗ lực của con người hay chăng? Trong khi xã hội càng ngày càng trở nên toàn cầu hóa hơn bao giờ hết, nó làm cho chúng ta thành cận nhân nhưng không làm cho chúng ta thành huynh đệ. Lý trí, tự mình, có thể hiểu được sự bình đẳng giữa con người và cống hiến sự ổn định cho việc chung sống dân sự của họ, thế nhưng nó không thể thiết lập tình huynh đệ. Điều này bắt nguồn từ một ơn gọi siêu việt từ Thiên Chúa là Cha, Đấng đã yêu thương chúng ta trước, dạy chúng ta qua Người Con tình yêu thương huynh đệ là gì. Đức Phaolô VI, khi trình bày cho thấy những mức độ khác nhau trong tiến trình phát triển của con người, sau khi đã đề cập tới đức tin, đã đặt làm tột đỉnh “mối hiệp nhất trong đức ái của Chúa Kitô là Đấng kêu gọi tất cả chúng ta hãy chia sẻ như là những người con trong sự sống của Vị Thiên Chúa hằng sống là Cha của tất cả mọi người” [53].
20. Những quan điểm này, những quan điểm được Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc mở ra, vẫn là những gì nồng cốt cho việc cống hiến bầu khí và hướng đi cho việc dấn thân phát triển chư dân của chúng ta. Ngoài ra, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhu cầu khẩn trương cho vấn đề canh tân cải cách [54], và đương đầu với những vấn đề trầm trọng của tình trạng bất công nơi việc phát triển của chư dân, bức thông điệp này kêu gọi đừng trì hoãn thực hiện hành động can đảm. Nhu cầu khẩn trương này cũng là thành quả của yêu thương trong chân lý. Chính tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta: “caritas Christi urget nos” (2Cor 5:14). Nhu cầu khẩn trương này được in ấn không phải chỉ ở nơi các sự vật, nhu cầu khẩn trương ấy không được xuất phát nguyên từ tình trạng nối tiếp nhanh chóng xẩy ra của các biến cố và những vấn đề, mà còn từ chính vấn đề của nhu cầu khẩn trương này là việc thiết lập tình huynh đệ chân thực đang gặp nguy hiểm.
Tầm quan trọng của mục tiêu này đòi chúng ta cởi mở để hiểu biết nó một cách sâu xa và để vận động chính mình ơ ûtầm mức của “cõi lòng”, nhờ đó bảo đảm rằng những tiến trình về kinh tế và xã hội hiện đại xoay chung quanh những thành quả hoàn toàn về nhân bản.
Chương Hai
Việc Phát Triển của Con Người trong Thời Đại của Chúng Ta
21. Đức Phaolô VI đã có một nhãn quan rõ ràng về phát triển. Ngài đã hiểu từ ngữ này nói lên mục tiêu giải cứu các dân tôc, trước hết và trên hết, khỏi đói khổ, thiếu thốn, các thứ chứng bệnh hoạn và tình trạng mù chữ. Theo quan điểm về kinh tế, điều ấy nhắm đến việc họ chủ động tham phần một cách bình đẳng vào tiến trình kinh tế toàn cầu; theo quan điểm xã hội, nó nhắm đến việc tiến hóa thành những xã hội có giáo dục mang đặc tính đoàn kết; theo quan điểm chính trị, nó nhắm đến chỗ củng cố các chế độ dân chủ có khả năng bảo đảm tự do và hòa bình. Sau rất nhiều năm, như chúng ta quan tâm nhận thấy những thứ phát triển cùng với những viễn ảnh về tình trạng nối tiếp xẩy ra các cuộc khủng khoảng đang dằn vặt thế giới ngày nay, chúng ta đặt vấn đề là những sự mong đợi của Đức Phaolô VI đã được nên trọn tới mức độ nào trước mô thức phát triển được chấp hành trong các thập kỷ vừa qua. Bởi thế, chúng ta mới nhận thấy rằng Giáo Hội có đủ lý do tỏ ra quan tâm về khả năng của một xã hội thuần kỹ thuật trong việc đề ra các mục đích thực tiễn cũng như trong việc hưởng dụng các phương tiện trong tầm tay của nó. Lợi lộc là những gì hữu ích khi nó trở thành phương tiện hướng đến một đích điểm bao gồm một cảm quan về cả cách thức mang lại lợi lộc lẫn cách thức hưởng dùng lợi lộc. Một khi lợi lộc trở thành mục đích duy nhất, nếu nó được tạo nên bởi phương tiện thiếu chính đáng và không lấy công ích làm mục đích tối hậu của mình, thì nó có nguy cơ hủy hoại cảnh giầu thịnh và tạo nên cảnh nghèo khổ. Việc phát triển về kinh tế được Đức Phaolô VI mong thấy là những gì nhắm tới một tình trạng phát triển thực sự, một phát triển có lợi cho hết mọi người và thực sự khả trơ. Thật sự là việc tiến triển đã từng xẩy ra và nó tiếp tục là yếu tố tích cực đã cứu giúp hàng tỉ người ra khỏi cảnh khốn khổ – gần đây nó đã cống hiến cho nhiều quốc gia cơ hội trở thành những diễn viên hiệu năng trong chính trường quốc tế. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng cũng việc tăng trưởng này đã từng và đang tiếp tục bị đè nặng bởi những thứ mạo hành và các vấn đề bi thảm, những gì càng nổi bật hơn bởi cuộc khủng hoảng hiện nay. Điều này khiến cho chúng ta không thể trì hoãn những quyết định liên quan tới chính định mệnh của con người, thành phần lại càng không thể nào không quan tâm tới bản tính của họ. Những năng lực về kỹ thuật đang diễn tiến, những mối tương liên toàn cầu, những hậu quả tai hại trên nền kinh tế thực sự gây ra bởi việc hành sử về tài chính được điều hành cách tệ hại và đầu tư cách bao rộng, tình trạng di dân ở tầm mức lớn lao thường gây ra bởi một số hoàn cảnh đặc biệt để rồi không được quan tâm cho đủ, việc khai thác bừa bãi các nguồn lợi của trái đất: tất cả đều dẫn chúng ta hôm nay đến chỗ suy nghĩ về những biện pháp có thể cần thiết trong vấn đề cung cấp một giải pháp cho những vấn đề chẳng những mới mẻ so với những vấn đề được Đức Phaolô VI nói tới, mà còn nhất là ảnh hưởng quyết liệt trên thiện ích của nhân loại hiện tại cũng như tương lai. Những khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng này, những giải quyết của nó, và bất cứ việc phát triển mới nào có thể xẩy ra trong tương lai, đều càng ngày càng tương liên với nhau, chúng bao hàm lẫn nhau, chúng đòi những nỗ lực về một sự hiểu biết trọn vẹn mới và một tổng luận nhân bản mới. Tính chất phức tạp và trầm trọng của tình hình kinh tế hiện tại thực sự là những gì khiến cho chúng ta phải quan tâm, thế nhưng chúng ta cần phải chấp nhận một thái độ thực tế khi chúng ta tin tưởng chấp nhận và hy vọng những trách nhiệm mới mà chúng ta được kêu gọi trước viễn tượng của một thế giới cần đến một cuộc canh tân sâu xa về văn hóa, một thế giới đang cần tái khám phá ra những giá trị nồng cốt để nhờ đó xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Cuộc khủng hoảng hiện nay bắt buộc chúng ta phải tái hoạch định cho cuộc hành trình của chúng ta, đề ra cho mình những qui luật mới và tái khám phá ra những hình thức mới của việc dấn thân, bắt buộc chúng ta phải xây dựng trên những kinh nghiệm tích cực và loại trừ đi những kinh nghiệm tiêu cực. Thế nên cuộc khủng hoảng này trở thành một cơ hội nhận thứcc giúp hình thành một nhãn quan mới cho tương lai. Theo tinh thần này, tin tưởng hơn là thoái lui, thật là thích hợp để nói tới những gì là khó khăn trong thời điểm hiện nay.
22. Ngày nay hình ảnh về việc phát triển có nhiều tầng lớp chồng chất lên nhau. Những diễn viên và những nguyên nhân ở cả tình trạng chậm phát triển lẫn phát triển thì nhiều, những lầm lỗi và những công lênh là những gì khác biệt. Sự kiện này cần phải thúc động chúng ta giải phóng mình khỏi những thứ ý hệ là những gì thường quá đơn giản hóa thực tại bằng những cách thức nhân tạo, và nó cần phải dẫn chúng ta tới chỗ khách quan xem xét chiều kích trọn vẹn nhân bản của các vấn đề. Như Đức Gioan Phaolô II đã nhận định, lằn ranh giới giữa các xứ sở giầu và nghèo không còn sáng tỏ như thời của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các dân Tộc [55]. Tình trạng giầu thịnh của thế giới đang gia tăng đến cực độ, thế nhưng những tình trạng chênh lệch cũng đang gia tăng. Ở các xứ sở giầu có, những lãnh vực mới trong xã hội đang chìm vào cảnh nghèo khổ và những hình thức nghèo khổ mới đang hiện lên. Tại các miền nghèo khổ có một số nhóm người đang hoan hưởng một thứ “siêu phát triển” của một loại hưởng thụ hoang phí tạo nên một cảnh tương phản bất khả chấp trước những tình trạng thiếu thốn phi nhân bản đang diễn tiến. “Cái gương mù về những thứ chênh lệch chói lòa” [56] đang tiếp tục xẩy ra. Tình trạng băng hoại và bất hợp pháp tiếc thay là những gì hiển nhiên nơi tác hành của tầng lớp kinh tế và chính trị trong các quốc gia giầu thịnh, cả cũ lẫn mới, cũng như ở các quốc gia nghèo khổ. Trong số thành phần đôi khi không tôn trọng các thứ nhân quyền của nhân viên làm việc là các xí nghiệp đa quốc lớn cũng như các sản xuất gia ở địa phương. Việc trợ cấp quốc tế thường không đạt được các mục đích thích đáng của nó, bằng những hành động vô trách nhiệm cả trong hệ thống của thành phần trao tặng lẫn hệ thống của thành phần thụ hưởng. Tương tự như thế, theo những căn nguyên phi chất thể hay văn hóa của tình trạng phát triển và kém phát triển, chúng ta cũng thấy xuất hiện cả những kiểu mẫu trách nhiệm này. Về phần các xứ sở giầu thịnh, đang có quá nhiệt tình trong việc bảo vệ kiến thức bằng một chủ trương cứng ngắc thiếu chính đáng về quyền lợi của sản vật về tri thức, nhất là trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe. Trong khi đó, ở một số quốc gia nghèo khổ, những mẫu văn hóa và qui chuẩn hành vi cử chỉ xã hội cứ tiếp tục là những gì ngăn trở cho tiến trình phát triển.
23. Nhiều lãnh vực của toàn cầu ngày nay đã biến chuyển một cách đáng kể, mặc dù không rõ rệt và khác biệt, nhờ đó chiếm được chỗ đứng của mình giữa các đại quyền lực là những gì đóng vai trò quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của một thứ thuần kinh tế và kỹ thuật vẫn không đủ. Trên hết, việc phát triển cần phải chân thực và toàn vẹn. Nguyên sự kiện trổi lên từ tình trạng thụt lùi về kinh tế, mặc dù tự nó là những gì tích cực, cũng không giải quyết được những vấn đề phức tạp nơi việc tiến bộ của con người, cả ở những xứ sở đang lao mình tới mức tiến bộ như thế, lẫn ở những xứ sở đã phát triển về kinh tế, hoặc thậm chí ở những xứ sở vẫn còn nghèo khổ, những xứ sở chịu khổ bởi những hình thức bóc lột xưa mà còn bởi những hậu quả tiêu cực của một thứ tăng trưởng mang tính chất bất thường và bấp bênh.Sau cuộc sụp đổ của những hệ thống kinh tế và chính trị ở những xứ sở Cộng sản Đông Âu và sau khi chấm dứt những gì gọi là các khối đối nghịch, đã cần phải thực hiện một cuộc hoàn toàn tái nghiệm xét vấn đề phát triển. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi thực hiện việc này, khi ngài, vào năm 1987, đã vạch ra cho thấy sự hiện hữu của các khối đối nghịch nhau này như là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém phát triển [57], vì chính trị đã rút mất các nguồn lợi từ kinh tế cũng như từ văn hóa, và ý hệ đã ngăn chặn tự do. Hơn nữa, vào năm 1991, sau các biến cố năm 1989, ngài đã yêu cầu, trước cuộc chấm dứt của các khối này, cần phải có một dự án mới mẻ toàn diện cho vấn đề phát triển, chẳng những ở những xứ sở ấy, mà còn ở Tây Âu cũng như ở những phần đất khác trên thế giới đang ở trong tiến trình biến đổi [58]. Điều này mới chỉ đạt được một phần, và nó vẫn còn là một nhiệm vụ thực sự cần phải được giải tỏa, có thể bằng những quyết định cần thiết trong việc thắng vượt những vấn đề về kinh tế hiện nay.
24. Thế giới ở vào thời trước Đức Phaolô VI – thậm chí xã hội đã được biến chuyển cho đến độ ngài có thể nói về các vấn đề xã hội bằng những quan hệ toàn cầu – vẫn còn xa vời với vấn đề hội nhập hơn ngày nay. Hoạt động kinh tế và tiến trình chính trị cả hai được điều hành một cách rộng rãi trong cùng một vùng về địa dư, và vì thế có thể lợi dụng lẫn nhau. Việc sản xuất xẩy ra chủ yếu chỉ ở trong ranh giới quốc gia, và những thứ đầu tư về tiền tệ đã phần nào giới hạn việc luân chuyển ra ngoài quốc gia, nhờ đó chính trị ở nhiều Quốc Gia vẫn có thể định đoạt những thứ ưu tiên về kinh tế và ở một mức độ nào đó quản trị việc thì hành của nó bằng các phương tiện trong tầm tay. Thế nên, Thông Điệp Việc Phát Triển Của Các Dân Tộc đã ủy thác vai trò chính yếu cho dù không duy nhất cho “các thẩm quyền quần chúng” [59].
Trong thời đại của chúng ta đây, Quốc Gia cảm thấy cần phải giải quyết những giới hạn đối với chủ quyền của nó được áp đặt bởi bối cảnh mới của việc giao thương và tiền tệ quốc tế, thứ tiền tệ được đánh dấu bằng việc gia tăng sự chuyển vận của vốn tài chính và phương tiện sản xuất, về thể lý cũng như phi thể lý. Bối cảnh mới này đã làm thay đổi quyền lực chính trị của Quốc Gia.Ngày nay, khi chúng ta chú ý tới những bài học của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, cuộc khủng hoảng cho thấy các thứ quyền bính công khai của Quốc Gia trực tiếp tham gia vào vấn đề sửa chữa các lỗi lầm cùng những mạo hành, thì lại càng thực tế để tái thẩm định vai trò của chúng và các quyền lực của chúng, những quyền lực cần phải được khôn ngoan tái kiểm xét và tái mẫu thức để chúng có thể, có thể nhờ những hình thức mới của vấn đề tham gia, giải quyết các thách đố của thế giới ngày nay. Một khi vai trò của các thẩm quyền quần chúng đã được ấn định rõ ràng hơn, người ta có thể thấy trước một thứ gia tăng nơi các hình thức mới mẻ về việc tham gia chính trị, cả quốc gia lẫn quốc tế, một việc tham gia xẩy ra nhờ hoạt động của các cơ quan hoạt động trong xã hội dân sự; nhờ đó hy vọng rằng lợi ích và việc tham gia của người công dân ở lãnh vực quần chúng res publica được cắm rễ sâu xa hơn.
25. Từ quan điểm về xã hội thứ hai này, những hệ thống bảo vệ và an ninh, bao giờ cũng có ở nhiều xứ sở vào thời Đức Phaolô VI, đang gặp phải khó khăn và có thể càng khó hơn nữa mai ngày trong việc theo đuổi các mục tiêu về công bằng xã hội thực sự của chúng ở một môi trường biến đổi sâu xa ngày nay. Thị trường toàn cầu, đã kích thích, trước hết và trên hết, về phía các quốc gia giầu thịnh, một cuộc tìm kiếm những miền đất thực hiện việc sản xuất phụ thầu ở chi phí hạ hầu giảm giá được nhiều sản phẩm, gia tăng khả năng mua bán nhờ đó gia tốc mức độ phát triển về tính cách thuận lợi hơn nữa đối với những sản phẩm tiêu thụ cho thị trường nội địa. Bởi đó thị trường đã nẩy sinh những hình thức mới của tình trạng cạnh tranh giữa các Quốc Gia khi họ tìm cách lôi kéo những thương vụ ngoại quốc trong việc thiết lập những trung tâm sản xuất, bằng các dụng cụ khác nhau, bao gồm cả những chính sách thuận lợi về tài chính lẫn việc phi định chế về thị trường lao động. Những tiến trình này đã dẫn tới chỗ làm suy giảm đi các hệ thống an ninh về xã hội bằng một giá phải trả cho việc tìm kiếm lợi ích cạnh tranh hơn nữa trên thị trường toàn cầu, mà hậu quả đó là sự nguy hiểm trầm trọng đối với các quyền lợi của các nhân viên, đối với các quyền lợi nồng cốt của con người cũng như đối với tình đoàn kết liên hệ tới các hình thức truyền thống của Quốc Gia xã hội. Các hệ thống an sinh xã hội có thể mất đi khả năng thi hành phần việc của mình, cả ở những xứ sở đang lên lẫn ở các xứ sở thuộc về thành phần phát triển sớm nhất, cũng như ở các xứ sở nghèo khổ. Đến đây, các chính sách về ngân sách, bằng những thứ cắt giảm chi tiêu về xã hội thường được thực hiện bởi áp lực của các cơ cấu tài chính quốc tế, có thể khiến cho thành phần công dân trở thành bất lực trước những nguy cơ cũ mới; tình trạng bất lực này đang gia tăng bởi vấn đề thiếu mất việc bảo vệ hữu hiệu về phía các hiệp hội của thành phần nhân viên. Nhờ việc bao gồm vấn đề thay đổi cả về xã hội và kinh tế, các tổ chức nghiệp đoàn thương mại đang cảm thấy khó khăn hơn nữa nơi việc thi hành công việc của mình làm đại diện cho các lợi ích của thành phần nhân viên, một phần bởi Chính Quyền, vì những lý do lợi ích về kinh tế, thường giới hạn quyền tự do hay khả năng điều đình của các nghiệp đoàn lao động. Bởi thế các liên hệ truyền thống về tình đoàn kết cần phải thắng vượt các trở ngại càng ngày càng nhiều. Những lời kêu gọi được lập đi lập lại từ giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, bắt đầu từ Thông Điệp Tân Sự Rerum Novarum [60], đối với việc cổ võ những hiệp hội lao động có thể bênh vực các quyền lợi của họ, bởi thế, cần phải được tôn trọng, ngày nay thậm chí còn hơn cả trong quá khứ nữa, như là một đáp ứng mau chóng và khôn ngoan cho nhu cầu khẩn trương về những hình thức hợp tác mới ở tầm mức quốc tế cũng như ở tầm mức địa phương.
Vấn đề di động lao công, liên kết với một thứ bầu khí phi qui định, là một hiện tượng quan trọng với một số khía cạnh tích cực, vì nó có thể kích thích việc dồi dào sản xuất và việc trao đổi văn hóa. Tuy nhiên, lại không vững chắc đối với các điều kiện làm việc gây ra bởi vấn đề di động và phi qui định, khi nó trở thành đặc hữu, có khuynh hướng tạo nên các hình thức mới của tình trạng bất ổn định về tâm lý, gây khó khăn cho việc hình thành những dự án gắn bó đời sống, bao gồm cả việc gắn bó đời sống hôn nhân. Điều này dẫn đến những tình trạng suy thoái của con người, chưa nói gì tới vấn đề phung phí các nguồn lợi xã hội. So sánh với những tai họa về xã hội kinh tế trong quá khứ, vấn đề thất nghiệp ngày nay tạo nên những hình thức mới của việc xa lìa hóa kinh tế, và cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ có thể làm cho tình trạng này trở nên tệ hơn nữa. Tình trạng không có việc làm hay lệ thuộc vào việc trợ giúp chung riêng trong một thời gian kèo dài đang làm hao mòn quyền tự do và khả năng sáng tạo của con người và gia đình họ cùng với những liên hệ xã hội, gây nhiều khổ đau về tâm lý và tinh thần. Tôi muốn nhắc nhở mọi người, nhất là các chính quyền đang cố nâng cao những vốn liếng về xã hội và kinh tế của thế giới, rằng vốn liếng căn bản cần phải được bảo toàn và trân trọng đó là con người, là con người toàn vẹn của họ. “Con người là nguồn mạch, là tâm điểm và là mục đích của toàn thể đời sống kinh tế và xã hội” [61].
26. Về phương diện văn hóa, so với thời của Đức Phaolô VI, cái khác biệt thậm chí lại còn đậm nét hơn nữa. Ở vào thời đó, các nền văn hóa tương đối được xác định rõ và có cơ hội hơn trong việc bênh vực mình trước những nỗ lực làm cho chúng trở thành duy nhất. Ngày nay, các cơ hội của việc giao tiếp giữa các nền văn hóa đã gia tăng đáng kể, làm nẩy sinh những sự cởi mở mới cho việc đối thoại liên văn hóa: một đối thoại mà, nếu hiệu nghiệm, cần phải bắt đầu từ một kiến thức sâu xa về căn tính riêng biệt của thành phần đối thoại khác nhau. Đừng quên rằng việc thương mại hóa gia tăng về việc trao đổi văn hóa ngày nay đang dẫn tới một mối nguy hiểm song phương. Thứ nhất, người ta có thể nhận thấy một thứ chiết trung về văn hóa thường có vẻ ngây ngô, ở chỗ, các nền văn hóa chỉ được đặt bên nhau và chính yếu được coi như tương đương với nhau và khả liên hoán. Điều này dễ dàng đi tới một thứ chủ nghĩa tương dối không giúp vào việc thực sự đối thoại có tính cách liên văn hóa; về phương diện xã hội, chủ nghĩa tương đối về văn hóa gây tác dụng ở chỗ các nhóm về văn hóa cùng nhau sát cánh chung sống, mà vẫn phân biệt, không có vấn đề đối thoại thực sự và vì thế không có vấn đề hội nhập thực sự. Thứ hai, cái nguy hiểm trái nghịch xẩy ra là cái nguy hiểm của việc san bằng văn hóa và việc bừa bãi chấp nhận các kiểu cách tác hành và lối sống. Theo đó, người ta mất đi cái ý nghĩa sâu xa của văn hóa ở những quốc gia khác nhau, của những truyền thống thuộc các dân tộc khác nhau, nhờ đó cá nhân xác nhận mình liên quan tới các vấn đề nồng cốt của cuộc sống [62]. Điều mà việc chiết trung và san bằng văn hóa cùng có giống nhau đó là tách văn hóa ra khỏi bản tính của con người. Như thế, văn hóa không còn xác nhận mình trong một bản tính siêu việt hơn chúng [63], và con người cuối cùng bị giảm thiểu thành một thứ thống kê thuần túy về văn hóa. Khi điều này xẩy ra, nhân loại sẽ đụng đầu với những mối nguy cơ mới của tình trạng làm nô lệ và bị khai thác.
27- Sự sống ở nhiều xứ sở nghèo vẫn còn hết sức bất an gây ra bởi tình trạng thiếu thốn về thực phẩm, và tình trạng này có thể trở thành tệ hại hơn, ở chỗ nạn đói vẫn thu hoạch một con số khổng lồ các nạn nhân, trong đó, như Lazarô, có những người không được phép ngồi vào bàn của người giầu, ngược với những niềm hy vọng được Đức Phaolô bày tỏ [64]. Cho kẻ đói ăn (cf Mt 25:35,37,42) là một lệnh truyền về đạo lý đối với Giáo Hội hoàn vũ, khi Giáo Hội đáp ứng các giáo huấn được Đấng Sáng Lập của mình là Chúa Giêsu truyền dạy, liên quan tới tình đoàn kết và việc chia sẻ những sản vật. Ngoài ra, việc loại trừ tình trạng đói khổ trên thế giới, trong kỷ nguyên toàn cầu, cũng đã trở thành một đòi hỏi cần phải bảo toàn nền hòa bình và tình trạng vững bền của trái đất. Tình trạng đói khổ không lệ thuộc nhiều vào sự thiếu hụt những điều về vật chất cũng như vào sự khan hiếm những nguồn xã hội trong đó quan trọng nhất là vấn đề cơ cấu tổ chức. Nói cách khác, cái đang bị thiếu vắng đây là một thứ hệ thống của những cơ cấu tổ chức về kinh tế có thể bảo đảm phương tiện thường xuyên có được đầy đủ lương thực và nước nôi theo nhu cầu dinh dưỡng, cũng như có thể giải quyết những nhu cầu và thiết yếu căn bản xuất phát từ những cuộc khủng hoảng thực sự về lương thực, gây ra bởi những nguyên do tự nhiên hay bởi vấn đề vô trách nhiệm về chính trị ở lãnh vực quốc gia và quốc tế. Vấn đề thiếu an toàn về lương thực cần phải được giải quyết trong một viễn ảnh dài hạn, bằng việc loại trừ đi những nguyên nhân về cơ cấu gây ra cho nó và bằng cách cổ võ việc phát triển nông nghiệp ở những quốc gia nghèo. Điều này có thể thực hiện bằng việc đầu tư vào những hạ tầng cơ sở làng mạc, các hệ thống dẫn thủy nhập điền, việc chuyên chở, tổ chức các thị trường, cũng như bằng việc phát triển và phổ biến kỹ thuật nông nghiệp có thể sử dụng tối đa những nguồn lợi về nhân bản, thiên nhiên và kinh tế xã hội đang hết sức thuận lợi ở tầm cấp địa phương, đồng thời bảo đảm khả năng duy trì của chúng có tính cách dài hạn nữa. Tất cả những điều ấy cần phải được hoàn thành với sự tham gia của các cộng đồng địa phương vào những chọn lựa và quyết định ảnh hưởng tới việc sử dụng đất đai nông nghiệp. Về quan điểm này, cần phải quan tâm tới những tiềm năng mới đang lộ dạng qua việc sử dụng thích đáng những kỹ thuật trồng cấy truyền thống cũng như mới mẻ tân thời, luôn bảo đảm rằng những kỹ thuật này cần phải được phán đoán, sau khi được thử nghiệm đầy đủ, một cách thích đáng, tôn trọng môi trường và chú ý tới những nhu cầu của thành phần dân chúng bị hụt hẫng nhất. Đồng thời cũng không được coi thường vấn đề công bằng cải cách ruộng đất ở những xứ sở đang phát triển. Quyền được có thực phẩm cũng như quyền có nước nôi có một chỗ đứng quan trọng trong việc theo đuổi những thứ quyền lợi khác, bắt đầu với quyền sống căn bản. Bởi thế, cần phải vun trồng một thứ lương tâm công chúng coi lương thực và phương tiện có được nước nôi như là các quyền lợi phổ quát của tất cả mọi con người, bất biệt phân và kỳ thị [65]. Ngoài ra, cũng cần phải nhấn mạnh rằng tình liên đới với các xứ sở nghèo trong tiến trình phát triển có thể hướng đến một thứ giải quyết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, như các chính trị gia và các vị giám đốc những tổ chức quốc tế đã bắt đầu cảm nhận thấy mới đây. Nhờ việc nâng đỡ các xứ sở nghèo về kinh tế bằng những dự án tài chính xuất phát từ tình đoàn kết – nhờ đó những xứ sở ấy có thể tiến đến chổ thỏa đáng việc đòi hỏi của công dân mình về các sản vật tiêu thụ cũng như về việc phát triển – chẳng những có thể xuất phát một thứ phát triển thực sự về kinh tế mà còn là một đóng góp được thực hiện để bảo trì những khả năng sản xuất của các xứ sở giầu thịnh đang có nguy cơ bị tác hại bởi cuộc khủng hoảng này.
28. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề phát triển ngày nay là vấn đề quan trọng về việc tôn trọng sự sống, một vấn đề không thể nào tách khỏi các vấn đề liên quan tới việc phát triển của các dân tộc. Nó là một khía cạnh chiếm một vị thể càng nổi nang gần đây, buộc chúng ta phải nới rộng quan điểm của mình về vấn dề nghèo khổ [66] cũng như về tình trạng kém phát triển trong việc bao gồm những vấn đề liên hệ tới việc chấp nhận sự sống, nhất là trong những trường hợp nó bị ngăn trở bởi những cách thức khác nhau.
Tình trạng nghèo khổ chẳng những vẫn còn gây ra tử vong hài nhi cao độ ở nhiều miền đất, mà ở một số nơi trên thế giới vẫn trải qua những việc kiểm soát nhân khẩu, về phía các chính quyền thường phát động việc ngừa thai và thậm chí đi đến chỗ áp đặt phải phá thai. Ở những xứ sở phát triển về kinh tế, luật lệ chống lại sự sống rất thịnh hành, và nó đã tạo nên những thái độ và tập tục luân lý, góp phần vào việc lan tràn tâm thức chống sinh nở; thường có những nỗ lực xuất cảng thứ tâm thức này cho các Quốc Gia khác như nó là một hình thức của vấn đề tiến bộ về văn hóa.Một số Tổ Chức ngoài chính quyền đang chủ động thực hiện việc truyền bá vấn đề phá thai, có những lúc cổ võ việc triệt sản ở các quốc gia nghèo, ở một số trường hợp thậm chí không thông báo cho phụ nữ trong cuộc biết rằng họ bị triệt sản. Ngoài ra, có lý do để ngờ vực rằng việc trợ giúp phát triển đôi khi liên hệ tới những chính sách chăm sóc sức khỏe đặc biệt là những gì thực tế bao gồm vấn đề áp đặt những biện pháp mạnh mẽ kiểm soát vấn đề sinh sản. Những mối quan tâm khác nữa đó là các thứ luật lệ cho phép triệt sinh an tử cũng như vấn đề áp lực từ các nhóm vận động, thuộc lãnh vực quốc gia và quốc tế, để vấn đề triệt sinh an tử này được luật pháp công nhận.Việc cởi mở đối với sự sống là tâm điểm của vấn đề phát triển thực sự. Khi một xã hội tiến tới chỗ phủ nhận hay triệt hạ sự sống, nó sẽ tiến đến chỗ không còn tìm thấy động lực và nghị lực cần thiết để chiến đấu cho thiện ích thực sự của con người nữa. Nếu mất đi cảm quan nơi cá nhân và xã hội đối với việc chấp nhận một sự sống mới thì những hình thức khác của việc chấp nhận đáng giá với xã hội cũng sẽ bị tàn lụi đi [67]. Việc chấp nhận sự sống là những gì làm kiên cường cơ cấu luân lý và làm cho dân chúng có khả năng giúp đỡ lẫn nhau. Bằng việc vun trồng thái độ cởi mở đối với sự sống, thành phần giầu sang có thể hiểu được hơn nữa các nhu cầu của thành phần nghèo khổ, họ có thể tránh đi việc lợi dụng các nguồn lợi lớn lao về kinh tế và tri thức để thỏa mãn những ước muốn vị kỷ của thành phần công dân họ, thay vào đó, họ có thể cổ võ hoạt động một cách đức hạnh theo quan điểm của vấn đề sản xuất có tính cách lành mạnh về luân lý và mang đặc tính kết đoàn, tỏ ra tôn trọng quyền sống căn bản của hết mọi người và hết mọi cá nhân.
29. Còn một khía cạnh khác của đời sống tân tiến rất liên hệ với vấn đế phát triển, đó là việc chối bỏ quyền tự do tôn giáo. Tôi không chỉ nói tới những chống chọi và những xung khắc tiếp tục xẩy ra trên thế giới vì những động lực tôn giáo, thậm chí có những lúc động lực tôn giáo này chỉ là một thứ bình phong cho những lý do khác, chẳng hạn như ước muốn thống trị và giầu sang. Thật vậy, ngày nay dân chúng thường hay nhân danh Thiên Chúa để sát hại, như cả vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II lẫn tôi thường công khai nhận định và than van [68]. Bạo lực là những gì ngăn chặn việc phát triển chân chính và ngăn cản việc tiến hóa của chư dân hướng tới tình trạng phúc hạnh về kinh tế xã hội và thiêng liêng. Điều này áp dụng đặc biệt cho việc khủng bố bị tác động bởi chủ nghĩa bảo thủ [69] là những gì gây ra sầu thương, hủy hoại và chết chóc, cản trở việc đối thoại giữa chư quốc và làm cho những việc sử dụng an bình và dân sự của họ bị mất đi những nguồn lợi dồi dào.
Tuy nhiên, cần phải thêm rằng, như chủ nghĩa cuồng tín về tôn giáo, trong một số trường hợp, cản ngăn việc thực thi quyền tự do tôn giáo thế nào thì cũng thế, việc cổ võ thái độ dửng dưng về tôn giáo hay chủ nghĩa vô thần thực dụng nơi nhiều xứ sở là những gì ngăn chặn những đòi hỏi về vấn đề phát triển chư dân, khi làm cho họ bị hụt hẫng những nguồn lợi về tinh thần và nhân bản.Thiên Chúa là vị bảo đảm cho vấn đề phát triển chân thực của con người, như Ngài đã dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài, Ngài cũng thiết lập phẩm giá siêu việt cho con người nam nữ và khơi dậy nơi họ một niềm sâu xa mong ước “được trở nên hơn nữa”. Con người không phải là một nguyên tử lạc loài trong một vũ trụ ngẫu nhiên [70]: họ là tạo vật của Thiên Chúa, thành phần được Ngài trang bị bằng một linh hồn bất tử và luôn được Ngài yêu thương. Nếu con người chỉ là hoa trái của tình cờ hay tất yếu, hay nếu họ phải hạ thấp những ước vọng của mình xuống tới chân trời hạn hẹp của thế giới họ đang sống, nếu tất cả mọi thực tại chỉ là lịch sử và văn hóa, và con người không có một bản tính được ấn định trổi vượt chính mình bằng một đời sống siêu nhiên, thì người ta có thể nói về tăng trưởng, hay tiến hóa mà thôi chứ không phải là phát triển. Khi Quốc Gia cổ võ, giảng dạy hay thực sự áp đặt những hình thức của chủ nghĩa vô thần thực dụng, thì nó làm cho thành phần công dân của nó bị mất đi sức mạnh luân lý và thiêng liêng bất khả thiếu cho việc đạt được tình trạng phát triển toàn vẹn, và nó ngăn cản họ tiến bước bằng một động lực mới khi họ nỗ lực cống hiến một đáp ứng nhân bản quảng đại hơn đối với tình yêu thần linh [71]. Trong bối cảnh của những mối liên hệ về văn hóa, thương mại hay chính trị, đôi khi cũng xẩy ra là những xứ sở đã phát triển hay đang vươn lên về kinh tế đang xuất cảng thứ nhãn quan giảm thiểu này về con người cùng định mệnh của mình sang các xứ sở nghèo khổ. Đây là một thứ tai hại mà “tình trạng siêu phát triển” [72] gây ra cho vấn đề phát triển chân thực khi nó được kèm theo bằng một thứ “kém phát triển về luân lý” [73].
30. Trong bối cảnh này, đề tài về việc phát triển toàn vẹn con người thậm chí có một ý nghĩa bao rộng hơn nữa, ở chỗ mối tương quan giữa những yếu tố dồi dào của nó đòi phải quyết tâm nuôi dưỡng mối tương tác của những tầm mức khác nhau của kiến thức con người, để cổ võ việc phát triển đích thực chư dân. Việc phát triển hay những tầm mức kinh tế xã hội theo đó thường được nghĩ rằng chỉ cần được vun trồng nhờ hoạt động chung. Tuy nhiên, hoạt động chung này cần phải được hướng dẫn, vì “tất cả mọi hoạt động xã hội đều bao gồm một giáo huấn” [74]. Trước tính cách phức tạp của các vấn đề ấy, hiển nhiên là những cương lĩnh khác nhau cần phải cùng nhau hoạt động bằng một trao đổi liên cương một cách lớp lang. Bác ái không loại trừ kiến thức, trái lại, đòi hỏi, cổ võ và làm cho nó sinh động từ bên trong. Kiến thức không bao giờ thuần túy là hoạt động của lý trí. Nó có thể thực sự bị biến thành tính toán và thử nghiệm, nhưng nếu nó muốn trở thành sự khôn ngoan có khả năng hướng dẫn con người theo chiều hướng của những khởi nguyên và cùng những cùng đích của họ, thì nó cần phải được “gia vị” với “muối” bác ái. Những việc làm thiếu hiểu biết đều là những gì mù quáng, và kiến thức cthiếu yêu thương đều là những gì cằn cỗi. Thật vậy, “cá nhân nào được sinh động bởi đức bác ái đích thực thì nỗ lực một cách khéo léo để khám phá ra những căn nguyên của khốn khổ, để tìm cách chiến đấu với nó, quyết tâm chế ngự nó” [75]. Đối diện với hiện tượng trước mắt chúng ta, bác ái trong chân lý trước hết đòi hỏi là chúng ta cần phải biết và hiểu, khi nhìn nhận và tôn trọng khả năng chuyên biệt của mọi cấp độ hiểu biết. Bác ái không phải là một thứ phụ trội được thêm thắt vào, như một thứ phụ lục cho công việc đã được đúc kết ở từng các cương lĩnh khác nhau: nó liên kết chúng vào việc đối thoại ngay từ ban đầu. Các đòi hỏi của yêu thương không nghịch lại với những đòi hỏi của lý trí. Kiến thức của con người là những gì thiếu sót và những kết luận của khoa học tự chúng không thể vạch định ra con đường tiến tới việc phát triển toàn vẹn con người. Bao giờ cũng cần phải đẩy mạnh lên hơn nữa: đó là những gì bác ái trong chân lý đòi hỏi [76]. Tuy nhiên, việc vượt hơn đây không có nghĩa là bất cần đến các kết luận của lý trí, không có nghĩa là nghịch lại với những thành quả của nó. Kiến thức và yêu thương không phải ở trong những gian phòng tách biệt: yêu thương thì phong phú nhờ kiến thức và kiến thức thì tràn đầy yêu thương.
31. Điều này có nghĩa là việc thẩm định về luân lý và việc nghiên cứu về khoa học phải đi song song với nhau, và đức bác ái cần phải làm cho chúng sinh động trong một tổng thể hòa hợp liên cương lĩnh, có tính cách hiệp nhất và chuyên biệt. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, một giáo huấn có “một chiều kích liên cương lĩnh quan trọng” [77], theo quan điểm này, có thể thi hành một phần vụ hiệu nghiệm đặc biệt. Nó giúp cho đức tin, thần học, siêu hình học và khoa học liên hợp với nhau trong một nỗ lực hợp tác để phục vụ nhân loại. Ở đây, trước hết, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội cho thấy chiều kích khôn ngoan của mình. Đức Phaolô VI đã thấy rõ ràng là trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng kém phát triển đó là vấn đề thiếu khôn ngoan và suy tư, thiếu mất việc suy nghĩ có khả năng hình thành một tổng hợp soi dẫn [78], một tổng hợp đòi phải có “một nhãn quan rõ ràng về những khía cạnh về kinh tế, xã hội, văn hóa và thiêng liêng” [79]. Tình trạng phân mảnh quá mức của kiến thức [80], việc các khoa học nhân bản loại trừ đi khoa siêu hình học [81], những khó khăn gặp phải nơi vấn đề đối thoại trao đổi giữa khoa học và thần học, đang là những gì làm hư hại chẳng những cho vấn đề phát triển của kiến thức mà còn cho việc phát triển của các dân tộc nữa, vì những điều ấy làm chúng ta khó thấy được sự thiện toàn vẹn của con người nơi các chiều kích khác nhau của sự thiện này. “Việc nới rộng quan niệm của chúng ta về lý trí cùng với việc áp dụng của nó” [82] là những gì bất khả thiếu nếu chúng ta muốn thành công trong việc cân nhắc một cách đầy đủ tất cả mọi yếu tố liên quan tới vấn đề phát triển cũng như trong việc giải quyết các vấn đề về kinh tế xã hội.
32. Những yếu tố mới đáng kể trong bức tranh phát triển của các dân tộc ngày nay, ở nhiều trường hợp, đòi phải có những giải pháp mới. Cần phải tìm thấy những điều này chung với nhau, khi tỏ ra tôn trọng những luật lệ thích hợp với từng yếu tố và theo chiều hướng của một nhãn quan toàn vẹn về con người, khi lưu ý tới những khía cạnh khác nhau về con người, một con người được ngắm nhìn bằng một ống kính tinh tuyền nhờ đức bác ái. Những tụ điểm đáng kể và những giải pháp khả dĩ bấy giờ sẽ xuất hiện, không một yếu tố căn bản nào về đời sống con người bị lu mờ.
Phẩm giá của cá nhân con người và những đòi hỏi của công lý, đặc biệt ngày nay, đòi hỏi là những chọn lựa về kinh tế không được gây ra tình trạng gia tăng những chênh lệch về sự giầu có một cách thái quá và bất khả chấp về luân lý [83], và chúng ta tiếp tục ưu tiên hóa mục tiêu mang lại việc làm ăn vững bền cho hết mọi người. Tất cả mọi sự đều phải được quan tâm lưu ý tới, điều này cũng được “lý lẽ về kinh tế” đòi hỏi. Qua việc gia tăng một cách có hệ thống về tình trạng bất quân bình xã hội, cả trong từng xứ sở lẫn giữa dân chúng ở các xứ sở khác nhau (chẳng hạn sự kiện gia tăng ào ạt nơi tình trạng tương đối nghèo khổ), không phải chỉ tác hại tới vấn đề gắn bó về xã hội, do đó gây nguy hiểm cho chế độ dân chủ, mà còn tới cả nền kinh tế nữa, nơi tình trạng gia tăng soi mòn về “cái vốn liếng xã hội”, đó là hệ thống của các mối liên hệ về lòng tin tưởng, khả năng lệ thuộc, và việc tôn trọng các thứ luật lệ, tất cả đều là những gì bất khả thiếu cho bất cứ hình thức chung sống dân sự nào.
Khoa kinh tế học nói với chúng ta rằng vấn đề bất an toàn về cấu trúc là những gì gây ra những thái độ phản sản xuất làm hoang phí đi các nguồn nhân bản, vì các nhân viên có khuynh hướng thụ động chiều theo guồng máy tự động hơn là có tính cách sáng tạo. Cả về điểm này nữa, có một tụ điểm giữa khoa kinh tế học và việc thẩm định về luân lý. Những trả giá về nhân bản bao gồm những trả giá về kinh tế, và những lệch lạc tác hành về kinh tế bao giờ cũng phải trả giá về nhân bản.
Cần phải nhớ rằng việc biến các thứ văn hóa thành chiều kích kỹ thuật, thậm chí vì lợi lộc ngắn hạn, thì về lâu về dài cũng cản trở việc làm phong phú nhau và động lực hợp tác. Cần phải phân biệt giữa những quan tâm ngắn hạn và dài hạn về kinh tế hay xã hội học. Việc giảm bớt mức độ bảo vệ hợp với quyền lợi của các nhân viên, hay việc hủy bỏ cơ cấu tái phân phối sự giầu thịnh để gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia, đều cản trở vấn đề chiếm đạt việc phát triển lâu dài. Hơn nữa, những hậu quả về nhân bản của các khuynh hướng hiện nay đối với một thứ kinh tế ngắn hạn – đôi khi rất ngắn hạn – cần phải cẩn thận thẩm định. Điều này đòi phải suy nghĩ xa xôi hơn nữa và sâu xa hơn nữa về ý nghĩa của nền kinh tế cùng với các mục đích của nó [84], cũng như đòi phải xem xét lại một cách sâu xa và viễn kiến về mẫu thức hiện nay của vấn đề phát triển, hầu sửa sai những thứ thiếu lạnh mạnh và lệch lạc.
33. Hơn 40 năm sau Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đề tài căn bản của nó, tức là vấn đề tiến bộ, vẫn còn là một vấn đề cởi mở, một vấn đề càng trở thành cấp tính và khẩn trương hơn nữa trước cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính hiện nay. Nếu một số miền đất trên thế giới, từ một lịch sử nghèo khổ, đã trải qua những thay đổi đáng kể, liên quan tới vấn đề tăng trưởng kinh tế của mình cùng với việc tham phần vào việc sản xuất toàn cầu, thì các miền khác vẫn còn đang sống trong một tình trạng thiếu hụt so với tình hình ở vào thời của Đức Phaolô VI, và trong một số trường hợp, người ta thậm chí có thể nói về một thứ suy thoái. Vấn đề ở đây là có một số nguyên nhân cho tình trạng này đã được điểm mặt trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, chẳng hạn như những thứ quan thuế cao do các xứ sở phát triển về kinh tế áp đặt, những thứ quan thuế vẫn gây khó khăn cho những sản phẩm của các xứ sở nghèo chiếm được một chỗ đứng nơi thị trường của các xứ sở giầu có. Tuy nhiên, những nguyên nhân khác được đề cập tới qua loa trong bức Thông Điệp này từ đó đã trở thành rõ nét hơn. Một trường hợp được nhắm đến đó là việc thẩm định về tiến trình phi thực dân hóa bấy giờ đang ở vào lúc cao điểm của nó. Đức Phaolô VI đã hy vọng thấy được cuộc hành trình này tiến tới chỗ tự lập được triển nở một cách tự do và trong an bình. Hơn 40 năm sau, chúng ta cần phải nhìn nhận rằng cuộc hành trình này khó khăn biết bao, cả vì những hình thức mới của chủ nghĩa thực dân và việc tiếp tục lệ thuộc vào những quyền lực ngoại bang cũ mới, cũng như vì thái độ vô trách nhiệm trầm trọng trong chính các xứ sở đã đạt được nền độc lập.
Đặc tính mới mẻ chính yếu là cuộc bùng nổ về việc liên thuộc toàn cầu, thường được coi như là việc toàn cầu hóa. Đức Phaolô VI đã thấy được nó một phần nào, thế nhưng bước tiến dữ dội của nó khiến nó xoay vần tiến hóa thì không thể nào lường trước nổi. Xuất phát từ các xứ sở phát triển về kinh tế, tiến trình này, tự bản chất của nó, đã lan tràn ra bao gồm tất cả mọi nền kinh tế. Nó đã từng là một lực đẩy chính yếu cho việc trồi lên khỏi tình trạng kém phát triển của toàn thể những miền đất, và tự mình, nó cho thấy một cơ hội cả thể. Tuy nhiên, không được hướng dẫn bởi đức ái trong chân lý, cái lực lượng toàn cầu này có thể gây ra tai hại chưa từng thấy và tạo nên những chia rẽ mới trong gia đình nhân loại. Bởi thế, bác ái và chân lý đối với chúng ta trở thành một thách đố mới mẻ và sáng tạo, một thách đố thực sự là rộng lớn và phức tạp. Đó là vấn đề nới rộng tầm vóc của lý trí và làm cho nó có khả năng hiểu biết và hướng dẫn những lực lượng mãnh liệt mới mẻ này, làm cho chúng sinh động theo chiều hướng của “nền văn minh yêu thương” được Thiên Chúa gieo mầm nơi hết mọi người, nơi hết mọi nền văn hóa.
Chương Ba
Tình Huynh Đệ, Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội Dân Sự
34. Bác ái trong chân lý đặt con người trước cảm nghiệm lạ lùng của việc ban tặng. Tính chất nhưng không hiện hữu trong đời sống của chúng ta nơi nhiều hình thức khác nhau, những hình thức thường không nhận ra bởi một thứ chủ nghĩa thuần hưởng thụ và quan điểm thực dụng về đời sống. Con người được dựng nên để ban tặng, một thứ ban tặng bày tỏ và hiện thực chiều kích siêu việt của họ. Đôi khi con người tân tiến xác tín một cách lầm lạc rằng họ là tác giả duy nhất của chính mình, của sự sống họ và của xã hội. Đây là một giả tưởng xuất phát từ chỗ khép kín bản thân mình một cách vị kỷ, và là hậu quả – nói theo ngôn từ đức tin – của nguyên tội. Sự khôn ngoan của Giáo Hội bao giờ cũng vạch ra cho thấy sự hiện diện của nguyên tội nơi những điều kiện của xã hội cũng như nơi cấu trúc của xã hội: “Việc coi thường sự kiện là con người có một bản tính bị tổn thương hướng chiều về sự dữ đang gây ra những lầm lỗi trầm trọng ở những lãnh vực về giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý” [85]. Trong danh sách của những lãnh vực rõ ràng cho thấy hậu quả độc hại của tội lỗi, thì, qua một thời gian, hiện nay có cả kinh tế nữa. Chúng ta có chứng cớ rõ ràng về điều ấy vào lúc này đây. Niềm xác tín là con người là thành phần tự mãn và có thể thành công trong việc loại trừ đi sự dữ đang hiện diện trong lịch sử bằng nguyên hoạt động của mình đã dẫn họ đến chỗ lẫn lộn hạnh phúc và ơn cứu độ với những hình thức thịnh vượng vật chất và hoạt động xã hội. Rồi tới niềm xác tín rằng nền kinh tế cần phải biệt lập tự động, cần phải được bao che cho khỏi “những ảnh hưởng” của một thứ tính chất luân lý, đã dẫn con người tới chỗ lạm dụng tiến trình kinh tế một cách hoàn toàn hủy hoại. Về lâu về dài, những thứ tin tưởng này đã dẫn đến những hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị chà đạp lên tự do cá nhân và xã hội, và vì thế không thể mang lại công lý như chúng hứa hẹn. Như tôi đã nói trong Thông Điệp Niềm Hy Vọng Cứu Độ, lịch sử bởi thế đã hụt hẫng niềm hy vọng Kitô giáo [86], bị hụt hẫng một nguồn mạch xã hội mãnh liệt để phục vụ việc phát triển toàn vẹn con người là việc phát triển được thực hiện trong tự do và công lý. Niềm hy vọng phấn khích lý trí và cống hiến cho nó sức mạnh để hướng dẫn ý muốn [87]. Nó đã hiện diện nơi đức tin, thực sự nó được đức tin kêu gọi. Bác ái trong chân lý dinh dưỡng bằng niềm hy vọng và đồng thời bộc lộ niềm hy vọng ấy. Là một tặng ân hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, niềm hy vọng bừng lên trong đời sống của chúng ta như là một cái gì đó không hợp với chúng ta, một cái gì đó vượt trên hết mọi luật lệ của công lý. Tặng ân tự mình là những gì vượt lên trên công lênh sự nghiệp, qui luật của nó là qui luật của những gì dồi dào dự dật. Nó chiếm chỗ trên hết trong linh hồn chúng ta như dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta, một dấu hiệu của những gì Ngài mong đợi nơi chúng ta. Chân lý – tự mình là một tặng ân, như đức bác ái – là những gì cao cả hơn chúng ta, như Thánh Âu Quốc Tinh dạy [88]. Cũng thế, sự thật về chính bản thân chúng ta, về lương tâm riêng tư của chúng ta, trước hết được ban cho chúng ta. Trong hết mọi tiến trình hiểu biết, sự thật không phải là một cái gì đó do chúng ta sản xuất ra, nó bao giờ cũng là những gì được tìm kiếm, hay đúng hơn, được nhận lãnh. Như yêu thương, chân lý “không phải là những gì được dự tính hay ước muốn, mà là cái tự áp đặt mình một cách nào đó trên con người” [89].
Vì là một tặng ân được mọi người lãnh nhận mà bác ái trong chân lý là một quyền lực xây dựng cộng đồng, nó mang tất cả mọi người đến với nhau mà không áp đặt những ngăn trở hay giới hạn. Cộng đồng của con người được chính chúng ta đang xây dựng đây không bao giờ có thể, hoàn toàn tự sức mình, là một cộng đồng huynh đệ trọn vẹn, hay không bao giờ có thể thắng vượt được hết mọi chia rẽ và trở nên một cộng đồng hoàn vũ thực sự. Mối hiệp nhất của nhân loại, mối hiệp thông huynh đệ vượt trên hết mọi ngãng trở, được kêu gọi hiện hữu bởi lời Thiên Chúa Đấng là Tình Yêu. Khi nói tới vấn đề then chốt này, chúng ta cần phải làm sáng tỏ, một đàng, lý lẽ của tặng ân không loại trừ công lý, cũng không phải chỉ là một thứ yếu tố phụ thuộc được thêm thắt vào từ bên ngoài; đàng khác, việc phát triển về kinh tế, xã hội và chính trị, nếu thực sự là nhân bản, cần phải giành chỗ cho nguyên tắc nhưng không như là một biểu hiện của tình yêu thương huynh đệ.
35. Trong bầu khí tin tưởng lẫn nhau, thị trường là một cơ cấu kinh tế giúp cho con người có thể gặp gỡ nhau, vì họ là các chủ thể của một nền kinh tế, thành phần sử dụng những hợp đồng khế ước để điều hành các mối liên hệ của họ, khi họ trao đổi các sản vật cùng các dịch vụ có giá trị tương đương giữa chúng, để thỏa đáng những nhu cầu của họ và những gì họ mong ước. Thị trường tùy thuộc vào những nguyên tắc được gọi là công lý giao hoán, thứ công lý điều hợp những mối liên hệ trao ban và nhận lãnh giữa đôi bên kinh doanh. Thế nhưng giáo huấn về xã hội của Giáo Hội đã không ngừng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thứ công lý phân bổ và thứ công lý xã hội đối với nền kinh tế thị trường, chẳng những vì nó thuộc về một môi trường xã hội và chính trị rộng lớn, mà còn vì mối nối kết của những liên hệ chung quanh nền kinh tế thị trường này. Thật vậy, nếu thị trường được quản trị nguyên bởi nguyên tắc tương đương về giá trị của các sản vật trao đổi, thì nó không thể mang lại mối liên kết xã hội cần thiết để hành sử một cách tốt đẹp. Việc thiếu vắng những hình thức nội tại của tình đoàn kết và lòng tin tưởng lẫn nhau, thì thị trường không thể nào hoàn toàn chu trọn phận sự kinh tế thích đáng của nó. Và ngày nay chính vì niềm tin tưởng này không còn nữa, và việc mất mát niềm tin tưởng là một mất mát trầm trọng. Thật là đúng lúc thay khi Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã nhấn mạnh rằng tự hệ thống kinh tế có thể mang lại lợi ích từ việc thực hành công lý cách bao rộng, vì kẻ đầu tiên được lợi từ việc phát triển của các xứ sở nghèo là những xứ sở giầu có [90]. Theo vị Giáo Hoàng này thì đây không phải chỉ là vấn đề sửa sai những rối loạn chức năng nhờ được trợ giúp. Không được coi người nghèo như là một “gánh nặng” [91], nhưng là một nguồn tài nguyên, thậm chí theo những quan điểm thuần túy kinh tế. Tuy nhiên vẫn là những gì sai lầm khi chủ trương rằng nền kinh tế thị trường cần đến một thứ nhu cầu sẵn có cho một số hạn ngạch của nghèo đói và kém phát triển để đạt được những hoạt động tốt nhất. Chính ở nơi các lợi ích của thị trường trong việc phát động sự giải phóng, nhưng để làm điều đó một cách hiệu quả, mà nó không thể chỉ dựa trên chính nó, vì nó không thể tự mình sản xuất ra một cái gì đó ngoài tầm tay của nó. Nó phải rút ra những năng lượng luân lý của nó từ các chủ thể khác có khả năng tạo ra chúng.
36. Hoạt động kinh tế không thể giải quyết tất cả các vấn đề xã hội bằng các ứng dụng đơn giản của lý lẽ thương mại. Hoạt động này cần phải được chỉ đạo để theo đuổi lợi ích chung là những gì đặc biệt là các cộng đồng chính trị cũng phải chịu trách nhiệm. Do đó, nó phải nhớ rằng sự mất cân bằng trầm trọng xuất hiện khi hoạt động kinh tế là hoạt động được hình thành chỉ như là một động cơ để tạo ra sự giàu có, bị tách khỏi hoạt động chính trị là hoạt động được hình thành như là một phương tiện để theo đuổi công lý bằng việc tái phân phối.
Giáo Hội luôn chủ trương rằng hoạt động kinh tế không được coi như là những gì chống lại xã hội. Tự mình và bởi mình, thị trường không là và không được trở thành nơi cho kẻ mạnh đàn áp người yếu. Xã hội không cần phải bảo vệ mình khỏi thị trường, như thể vấn đề phát triển của thành phần yếu kém trên thực tế bao gồm tình trạng chết chóc nơi những mối liên hệ chân thực của con người. Phải công nhận rằng thị trường có thể trở thành một quyền lực tiêu cực, không phải tự bản chất của nó như vậy, nhưng vì một ý hệ nào đó khiến nó trở nên như thế. Cần phải nhớ rằng thị trường không hiện hữu ở một trạng thái thuần túy. Nó được làm nên bởi những cấu thể văn hóa định hình nó và cống hiến cho nó hướng đi. Kinh tế và tài chính, như những thứ dụng cụ, có thể được sử dụng một cách tai hại khi những thứ này khởi đầu được tác động bởi những mục đích thuần vị kỷ. Các thứ dụng cụ tự chúng là tốt bởi thế ccó thể biến thành những dụng cụ tai hại. Thế nhưng chính trí khôn mờ tối của con người là những gì sản xuất ra những hậu quả ấy chứ không phải tự chính dụng cụ. Thế nên không phải là vấn đề dụng cụ là những gì cần phải quan tâm mà là cá nhân con người, lương tâm luân lý của họ và trách nhiệm bản thân cùng xã hội của họ.
Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội chủ trương rằng các mối liên hệ thân hữu chân thực của con người, tình đoàn kết và sự hỗ tương cũng có thể được hành sử trong hoạt động kinh tế, chứ không phải chỉ ở ngoài nó hay “theo” nó. Lãnh vực kinh tế không phải là lãnh vực trung dung về đạo lý, cũng không phải tự mình là những gì phi nhân bản và chông lại xã hội. Nó thuộc về và là một phần của hoạt động con người, và chính vì nó là những gì nhân bản, nó cần phải được cấu tạo và quản trị một cách đạo đức.
Thách đố cả thể trước mắt chúng ta, một thách đố nổi bật bởi những vấn đề về phát triển trong kỷ nguyên toàn cầu này và càng trở thành khẩn trương bởi cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính, đó là chứng tỏ cho thấy, trong ý nghĩ cũng như tác hành, chẳng những các nguyên tắc truyền thống về đạo lý xã hội như tính chất thanh liêm, chân thực và trách nhiêm là những gì không thể coi thường hay bị suy yếu đi, mà còn trong cả những liên hệ về thương mại, nguyên tắc nhưng không và lý lẽ ban tặng như là một thể hiện của tình huynh đệ cũng có thể và cần phải có chỗ đứng của mình trong hoạt động bình thường của kinh tế nữa. Đây là một đòi hỏi nhân bản vào lúc này đây, thế nhưng nó cũng là những gì lý lẽ của kinh tế đòi hỏi nữa. Nó là một đòi hỏi cả của bác ái và sự thật.
37. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng chủ trương rằng cần phải áp dụng công lý cho hết mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì điều này bao giờ cũng liên quan tới con người và các nhu cầu của họ. Việc định vị các thứ nguồn lợi, vấn đề tài chính, việc sản xuất, việc tiêu thụ cùng với tất cả mọi giai đoạn khác nơi chu kỳ của kinh tế đều chắc chắn bao hàm những gì về luân lý. Thế nên hết mọi quyết định về kinh tế đều có hậu quả về luân lý. Các khoa học về xã hội và chiều hướng của nền kinh tế hiện đại cũng nhắm đến cùng một kết luận ấy. Có thể vào một lúc nào đó người ta cho rằng trước hết việc kiến tạo nên sự giầu có có thể được trao phó cho nền kinh tế, và rồi công việc phân phối cái giầu có này có thể được ủy thác cho chính trị. Ngày nay vấn đề trở nên khó khăn hơn, ở chỗ hoạt động kinh tế không còn quanh quẩn trong những hạn hẹp về địa dư nữa, trong khi đó thẩm quyền của các chính phủ tiếp tục vẫn chính yếu có tính cách địa phương. Vì những qui tắc về công lý cần phải được tôn trọng từ đầu, trong khi tiến trình kinh tế triển khai, chứ không phải sau đó hay ngẫu nhiên tình cờ xẩy ra. Cũng cần phải tạo chỗ nơi thị trường cho hoạt động kinh tế được thi hành bởi những chủ thể muốn tự do tác hành theo các nguyên tắc không phải là những nguyên tắc thuần lợi lộc, mà không tác hại tới tiến trình sản xuất có giá trị về kinh tế. Nhiều thực thể về kinh tế đang rút tỉa được nguồn gốc của mình từ những khởi động tôn giáo và thế tục cho thấy rằng đây là những gì cụ thể khả dĩ.Trong một kỷ nguyên toàn cầu này, nền kinh tế bị chi phối bởi những kiểu mẫu cạnh tranh dính liền với các nền văn hóa rất khác nhau. Những hình thức khác nhau của tổ chức kinh doanh kinh tế xuất hiện những kiểu mẫu cạnh tranh này tìm thấy điểm gặp gỡ chính yếu của mình nơi thứ công lý giao hoán. Sinh hoạt kinh tế thật sự đòi hỏi những thứ hợp đồng khế ước, để điều hành những mối liên hệ trao đổi giữa những sản vật có giá trị tương đương. Thế nhưng, nó cũng cần đến những luật lệ chính đáng và các hình thức tái phân phối bởi chính trị, mà hơn thế nữa, nó cần hoạt động tỏa ra một tinh thần ban tặng nữa. Nền kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu này dường như ưa thích cái lý lẽ trước, cái lý lẽ của sự trao đổi theo hợp đồng, thế nhưng, trực tiếp hay gián tiếp, nó cũng cho thấy nó cần đến hai lý lẽ khác nữa, đó là lý lẽ chính trị và lý lẽ của việc ban tặng nhưng không.
38. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II đã chú ý tới vấn đề này trong Thông Điệp Bách Niên của ngài, khi ngài nói về nhu cầu cần có một hệ thống có 3 chủ thể, đó là thị trường, Chính Quyền và xã hội dân sự [92]. Ngài đã thấy xã hội dân sự như là một môi trường tự nhiên nhất cho một nền kinh tế của sự nhưng không và tình huynh đệ, thế nhưng ngài không muốn xã hội dân sự này không có được một chỗ đứng ở hai môi trường kia. Ngày nay chúng ta có thể nói rằng sinh hoạt kinh tế cần phải được hiểu như là một hiện tượng có nhiều tầng lớp: ở hết mọi tầng lớp này, tùy theo các mức độ khác nhau và các đường lối xứng với từng tầng lớp một, khía cạnh về tính hỗ tương huynh đệ cần phải hiện hữu. Trong kỷ nguyên toàn cầu này, hoạt động kinh tế không thể không quan tâm tới tính chất nhưng không là tình chất nuôi dưỡng và làm truyền lan tình đoàn kết và trách nhiệm đối với công lý và công ích nơi những thành phần đóng các vai trò kinh tế khác nhau. Nó rõ ràng là một hình thức chuyên biệt và sâu xa của nền dân chủ về kinh tế. Tình đoàn kết trước hết và trên hết là cảm thức trách nhiệm về phía của mọi người liên quan tới mọi người [93], và vì thế nó không thể chỉ hoàn toàn ủy thác cho Chính Quyền. Trong quá khứ cho dù có thể lập luận rằng công lý phải có trước và sau đó mới tới tính chất nhưng không, như là một thứ bổ khuyết, ngày nay hiển nhiên cho thấy rằng nếu thiếu tính chất nhưng không thì trước hết không có công lý. Bởi vậy, điều cần thiết ở đây là một thứ công trường cho phép tự do hoạt động, với điều kiện có những cơ hội tương đương, có những thứ kinh doanh theo đuổi những mục đích khác nhau về tổ chức. Cùng với việc kinh doanh tư riêng tìm kiếm lợi lộc và những kiểu mẫu khác nhau của việc kinh doanh công cộng, cần phải có chỗ cho những thực thể về thương mại đặt nền tảng trên những nguyên tắc có tính cách hỗ tương và theo đuổi những mục đích về xã hội để hình thành và thể hiện chính mình. Chính từ cuộc gặp gỡ nhau này của chúng nơi công trường như thế mà người ta có thể mong đợi những hình thức pha trộn xẩy ra nơi tác hành thương mại và vì thế chú trọng tới những đường lối văn minh hóa kinh tế. Trong trường hợp này, bác ái trong chân lý đòi hỏi là cần phải cung cấp hình thể và cấu trúc cho những loại khởi động về kinh tế, những khởi động mà, không loại trừ lợi lộc, nhắm tới một mục tiêu cao cả hơn là thứ thuần lý lẽ của việc trao đổi những gì tương đương với nhau, trao đổi lợi lộc như nó chính là cùng đích vậy.
39. Đức Phaolô VI trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc đã kêu gọi việc kiến tạo nên một mẫu kinh tế thị trường có khả năng bao gồm trong phạm vi của mình tất cả mọi dân tộc chứ không nguyên các dân khá giả. Ngài đã kêu gọi hãy thực hiện các nỗ lực trong việc xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người, một thế giới là nơi “tất cả mọi người đều có thể trao ban và nhận lãnh, chứ không phải là một nhóm nào đạt được tiến bộ bằng giá phải trả của nhóm kia” [94]. Theo đó, ngài đã áp dụng ở tầm cấp toàn cầu những minh thức và các ước vọng trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum, một văn kiện được viết vào thời điểm cái ý nghĩ sau đây mới được dự phóng – dường như trước thời điểm của mình – như thành quả của một cuộc Cách Mạng về Kỹ Nghệ, đó là lãnh vực dân sự, đối với việc tự điều hành của mình, cũng cần đến việc can thiệp của Chính Quyền về vấn đề tái phân phối. Ngày nay quan niệm này chẳng những đã bị đe dọa bởi đường lối cởi mở của các thị trường và các xã hội, mà còn hiển nhiên cho thấy nó không đủ thỏa đáng những đòi hỏi của một nền kinh tế hoàn toàn nhân bản. Theo nhãn quan của mình về con người và xã hội, những gì giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng duy trì ngày nay đang được chứng thực bởi các động lực của việc toàn cầu hóa.
Khi cả lý lẽ về thị trường và lý lẽ về Chính Quyền theo cùng một chiều hướng là mỗi một bên vẫn cứ tiếp tục hành sử một thứ độc quyền nơi lãnh vực ảnh hưởng riêng biệt của mình, thì về lâu về dài sẽ bị mất mát đi rất nhiều, ở chỗ, tình đoàn kết trong các mối liên hệ giữa thành phần công dân, việc tham dự và gắn bó, những hành động nhưng không, tất cả đều tương phản với việc trao ban để chiếm đạt (thứ lý lẽ của trao đổi) và việc trao ban theo phận vụ (lý lẽ của trách nhiệm chung theo luật lệ của Chính Quyền). Để đánh bại tình trạng kém phát triển, cần phải thực hiện việc chẳng những cải tiến những giao dịch trao đổi và vun trồng những cấu trúc an sinh chung, nhưng nhất là vấn đề từ từ gia tăng việc cởi mở, trong một bối cảnh thế giới, đối với các hình thức của hoạt động kinh tế được đánh dấu bằng những gì là nhưng không và hiệp thông. Thứ kiểu mẫu chuyên nhất Nhà Nước kiêm thị trường có tính cách song phương là những gì làm soi mòn xã hội, vì các hình thức kinh tế đặt trên tình đoàn kết là những gì xây đắp xã hội, một tình đoàn kết cảm thấy tự nhiên như ở nhà nơi xã hội dân sự mà không bị hạn chế vào xã hội dân sự này. Cái thị trường có tính cách nhưng không này không hiện hữu, và những thái độ nhưng không không thể được luật lệ thiết lập. Tuy nhiên, cả thị trường và chính trị đều cần đến những cá nhân cởi mở trước việc trao tặng hỗ tương.
40. Cảnh tượng của nền kinh tế quốc tế ngày nay, một nền kinh tế được đánh dấu bằng những sai lệch và thất bại trầm trọng, đòi phải có một đường lối hết sức mới mẻ của việc hiểu biết vấn đề kinh doanh thương mại. Những kiểu mẫu cũ đang biến đi, nhưng những kiểu mẫu mới hứa hẹn đang xuất hiện ở chân trời. Chắc chắn một điều đó là một trong những nguy cơ lớn nhất đối với các thứ thương mại là chúng hầu như hoàn toàn có thể đáp ứng cho thành phần đầu tư của mình, bởi thế hạn chế giá trị về xã hội của chúng. Vì vấn đề phát triển của chúng về tầm cấp cũng như vì nhu cầu cần phải thêm vốn liếng hơn nữa, mà càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các ngành kinh doanh thương mại nằm ở trong tay của một vị giám đốc vững chắc, người cảm thấy hữu trách dài hạn, chứ không chỉ ngắn hạn, đối với việc sinh hoạt cùng với các thành quả của tổ chức kinh doanh mình, và càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các thứ ngành thương mại lệ thuộc vào một khu vực duy nhất. Ngoài ra, cái gọi là phụ hợp đồng của tiến trình sản xuất có thể làm yếu kém cảm quan trách nhiệm của tổ chức kinh doanh này đối với thành phần chịu ảnh hưởng – tức là thành phần nhân viên, các cung cấp viên, các tiêu thụ viên, môi trường tự nhiên và xã hội bao rộng – mà thiên về thành phần được chia phần, thành phần không thắt buộc với một vùng địa dư đặc biệt này và vì thế là thành phần được đặc biệt hoan hưởng việc di động. Thị trường vốn liếng quốc tế ngày nay đang cống hiến nhiều tự do hoạt động. Tuy nhiên, cũng đang gia tăng ý thức về nhu cầu cần phải có trách nhiệm xã hội hơn nữa về phía việc thương mại. Ngay cả những quan tâm về đạo lý là những gì đang có vấn đề tranh cải liên quan tới trách nhiệm xã hội của thế giới tổ hợp cũng không phải tất cả đều khả chấp theo quan điểm giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, tuy nhiên, đang gia tăng một niềm xác tín là việc quản trị thương mại không thể chỉ tỏ ra quan tâm tới những lợi ích của thành phần sở hữu chủ, mà còn phải lãnh trách nhiệm đối với tất cả mọi thành phần chịu ảnh hưởng khác nữa, thành phần góp phần vào việc sinh hoạt của thương mại: như các nhân viên, các thân chủ, các cung cấp viên cho những yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng tham vấn. Trong những năm gần đây, một loại quản trị viên toàn cầu mới xuất hiện, thành phần thường chỉ đáp ứng đối với những ai chia phần ở chỗ nói chung có những quĩ ẩn danh là những gì thực tế quyết định thù lao của họ. Thế nhưng, ngược lại, nhiều quản trị viên nhìn xa trông rộng ngày nay đang càng ngày càng ý thức về những thứ liên hệ sâu xa giữa việc kinh doanh của họ với địa hạt hay những địa hạt hoạt động của mình. Đức Phaolô VI đã kêu mời dân chúng hãy nghiêm chỉnh chú ý tới sự tàn hại có thể xẩy đến cho xứ sở nhà của người ta nơi việc chuyển ra nước ngoài vốn liếng hoàn toàn vì lợi ích riêng tư [95]. Đức Gioan Phaolô II dạy rằng việc đầu tư bao giờ cũng có tính cách luân lý cũng như kinh tế [96]. Tất cả những điều này – cần phải nhấn mạnh là – ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm, mặc dù sự kiện thị trường vốn liếng đã được tự do rất nhiều, và ý nghĩ tân tiến về kỹ thuật có thể cho thấy rằng việc đầu tư chỉ thuần túy là một tác động về kỹ thuật, chứ không phải là một tác động về nhân bản và đạo lý. Có lý do để phủ nhận rằng một số lượng vốn liếng nào đó có thể mang lại lợi ích, nếu được đầu tư ở nước ngoài hơn là ở quốc nội. Tuy nhiên, cần phải bảo toàn những đòi hỏi về công lý, khi tỏ ra quan tâm thích đáng tới đường lối sinh lợi cái vốn liếng ấy cùng với tại hại gây ra cho những cá nhân phải gánh chịu nếu cái vốn liếng này không được sử dụng ở nơi nó gặt hại [97]. Những gì cần phải tránh né đó là việc sử dụng đầu cơ tích trữ các nguồn tài chính theo chiều hướng chỉ tìm kiếm lợi lộc ngắn hạn, không lưu ý gì tới khả năng duy trì dài hạn của việc kinh doanh, lợi ích của nó cho nền kinh tế thực sự cùng chú ý tới vấn đề thăng tiến, bằng những đường lối thích hợp và thích đáng, của những khởi động về kinh tế khác trong những xứ sở cần phát triển. Sự thực thì việc xuất cảng những thứ đầu tư và khả năng có thể mang lại lợi ích cho thành phần dân chúng của xứ sở nhận được những thứ đầu tư và khả năng này. Lao cộng và kiến thức về kỹ thuật là một sản vật phổ quát. Tuy nhiên, vấn đề không đúng khi xuất cảng những thứ này hoàn toàn vì muốn đạt được những điều kiện thiện lợi, hay tệ hơn nữa, vì để khai thác, không góp phần vào xã hội địa phương bằng việc giúp mang lại một hệ thống sản xuất và xã hội kiên cường, một yếu tố thiết yếu cho vấn đề phát triển vững chắc.
41. Trong bối cảnh của việc bàn luận này, cần nhận định rằng việc kinh doanh thương mại bao gồm một chuỗi bao rộng các thứ giá trị, trở nên rộng lớn hơn ở mọi lúc. Quyền bá chủ liên tục của kiểu song phương Nhà Nước kiêm thương mại đã khiến chúng ta chỉ quen nghĩ đến một mặt là thành phần lãnh đạo ngành thương mại riêng tư theo chiều hướng tư bản và một mặt là thành phần giám đốc của Nhà Nước. Trên thực tế, vấn đề thương mại cần phải được hiểu một cách liên kết với nhau. Có một số lý do, một thứ siêu kinh tế, nói được là như thế. Hoạt động thương mại có một ý nghĩa nhân bản, trước cả ý nghĩa chuyên môn của nó [98]. Nó hiện diện nơi tất cả mọi công việc, được hiểu như là một hành động riêng tư, một “actus personae” [99], một hành động là lý do tại sao hết mọi công nhân cần phải có cơ hội để thực hiện việc góp phần của mình, với ý thức là một cách nào đó “họ đang làm việc cho ‘chính họ’” [100]. Đức Phaolô đã có lý để dạy rằng “hết mọi người làm việc đều là một hóa công” [101]. Chính vì để đáp ứng cho các nhu cầu và phẩm vị của công nhân, cũng như các nhu cầu của xã hội, mới có những loại kinh doanh thương mại khác nhau, không phải chỉ đơn thuần phân biệt giữa “riêng tư” và “công cộng”. Mỗi loại kinh doanh thương mại này đòi hỏi và thể hiện một khả năng thương mại đặc biệt. Để kiến tạo một nền kinh tế sớm đóng vai trò phục vụ công ích của quốc gia và thế giới, cần phải chú ý tới ý nghĩa bao rộng hơn này của hoạt động thương mại. Nó thiên về việc làm phong phú giữa những loại khác nhau của hoạt động thương mại, bằng việc xoay chuyển các thứ khả năng từ thế giới “vô vị lợi” sang thế giới “vụ lợi” hay ngược lại, từ thế giới công sang xã hội dân sự, từ các nền kinh tế tân tiến sang các quốc gia đang phát triển.
“Thẩm quyền chính trị” cũng bao gồm một loạt bao rộng các thứ giá trị, những thứ giá trị không được coi thường trong tiến trình kiến tạo nên một lãnh vực mới của vấn đề sản xuất về kinh tế, một vấn đề sản xuất hữu trách và nhân bản về xã hội theo cấp độ. Và trong việc vun trồng các hình thức khác nhau của hoạt động thương mại ở tầm câá toàn cầu, chúng ta cũng cần phải cổ võ một thứ thẩm quyền chính trị phân tán, có công hiệu ở những mức độ khác nhau. Nền kinh tế hội nhập ngày nay không làm cho vai trò của Nhà Nước trở thành dư thừa, trái lại, nó ủy thác cho các chính quyền việc hợp tác với nhau nhiều hơn nữa. Cả sự khôn ngoan lẫn thận trọng đều cho thấy rằng đừng quá cứng ngắc trong vấn đề tuyên bố về việc chuyển nhượng của Nhà Nước. Về vấn đề giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, vai trò của Nhà Nước dường như gia tăng hơn, khi nó lấy lại nhiều quyền năng của mình. Ngoài ra, ở một số quốc gia, việc kiến trúc và tái kiến trúc của Nhà Nước vẫn là một yếu tố chính yếu trong việc phát triển của những quốc gia ấy. Việc tập trung vào vấn đề trợ giúp quốc tế, theo dự án của tình đoàn kết để giải quyết các vấn đề kinh tế ngày nay, cần phải củng cố các hệ thống cơ cấu, pháp lý và quản trị ở những xứ sở chưa hoàn toàn hoan hưởng những thứ sản vật ấy. Song song với việc trợ giúp về kinh tế, cần phải có những trợ giúp hướng tới việc củng cố những bảo đảm thích đáng với State of law, tức là với một hệ thống của lãnh vực công cộng cùng với hình phạt hiệu lực tỏ ra tôn trọng các thứ nhân quyền, tôn trọng những tổ chức thực sự dân chủ. Nhà Nước không cần có những đặc tính đồng nhất ở mọi nơi: việc nâng đỡ nhắm đến chỗ củng cố các hệ thống tổ chức yếu kém có thể dễ dàng được kèm theo bởi việc phát triển của những vai trò chính trị khác, có một bản chất văn hóa, xã hội, lãnh thổ và tôn giáo, song song với Nhà Nước. Việc ăn khớp với nhau của thẩm quyền chính trị ở những tầm cấp địa phương, quốc gia và quốc tế là một trong những đường lối hay nhất trong việc cống hiến hướng đi của tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế. Nó cũng là đường lối để bảo đảm rằng nó không thực sự làm tiêu hao đi các nền tảng của nền dân chủ.
42. Đôi khi vấn đề toàn cầu hóa được thấy một cách định mệnh tính, như thể các động lực liên quan tới nó là sản phẩm của những lực lượng bâng quơ vô danh hay là những cấu trúc không lệ thuộc vào ý muốn của con người [102]. Về vấn đề này nên nhớ rằng nếu việc toàn cầu hóa thực sự cần được hiểu như là một tiến trình kinh tế xã hội, thì đây không phải là chiều kích duy nhất của nó. Ở bên dưới cái tiến trình hiển hiện hơn ấy thí chính nhân loại lại đang càng ngày càng trở nên tương liên hơn nữa; nó được làm nên bởi các cá nhân con người và chư dân là những thành phần nhận được những thiện ích và phát triển được cống hiến bởi tiến trình ấy [103], khi họ nhận lãnh trách nhiệm của mình một cách cá thể cũng như tổng thể. Việc phân chia ranh giới không phải chỉ là một sự kiện về vật chất: nó cũng là một biến cố về văn hóa ở cả căn nguyên của nó lẫn tác dụng của nó. Nếu vấn đề toàn cầu hóa được nhìn theo một quan điểm định thuyết thì qui chuẩn được dùng để thẩm lượng và hướng dẫn nó không còn nữa. Như là một thực tại nhân bản, nó là sản phẩm của các khuynh hướng khác nhau về văn hóa, những khuynh hướng cần phải được tùy thuộc vào một tiến trình của sự nhận thức. Sự thật về vấn đề toàn cầu hóa như là một tiến trình và tiêu chuẩn về đạo lý căn bản của nó là những gì được cống hiến cho từ mối hiệp nhất của gia đình nhân loại cùng với việc phát triển của gia đình này hướng tới những gì thiện hảo. Bởi thế cần phải bền bỉ dấn thân trong việc cổ võ một tiến trình hội nhập toàn cầu hướng về siêu việt thể lấy căn bản là con người và hướng về cộng đồng.
Bất chấp một số những yếu tổ cấu trúc của mình, những yếu tố không được chối bỏ cũng như không được phóng đại, “vấn đề toàn cầu hóa, trước hết, không tốt cũng chẳng xấu. Nó sẽ là những gì con người sử dụng nó” [104]. Chúng ta không được là thành phần nạn nhân của nó, trái lại, là những chủ đạo viên của nó, tác hành theo ánh sáng của lý trí trong bác ái và chân lý. Việc mù quáng chống đối sẽ là một thái độ lầm lẫn và theo thành kiến, không thể nhận thấy các khía cạnh tích cực của tiến trình này, mà hậu quả nguy hiểm đó là mất đi cơ hội trong việc lợi dụng nhiều cơ hội của nó đối với việc phát triển. Những tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và hướng dẫn cách thích đáng, là những gì hướng tới một tiềm năng chưa hề thấy của việc tái phân phối một cách sâu rộng sự phong phú ở tầm cấp toàn cầu; tuy nhiên, nếu được hướng dẫn một cách tai hại thì chúng có thể dẫn đến tình trạng gia tăng nghèo khổ và chênh lệch, và thậm chí có thể gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu. Cần phải điều chỉnh những thứ trục trặc, mà một số những trục trặc này có tính cách trầm trọng, đang gây ra những thứ chia rẽ mới giữa các dân tộc và trong các dân tộc, cũng như cần phải bảo đảm là việc tái phân phối sự phong phú không xẩy ra bằng việc tái phân phối hay gia tăng tình trạng nghèo khổ: một thứ nguy hiểm thực sự nếu tình hình hiện nay bị quản trị một cách tệ hại. Qua một thời gian dài người ta nghĩ rằng các dân tộc nghèo khổ cần phải ở nguyên một chỗ giai đoạn phát triển và bằng lòng lãnh nhận trợ giúp nhân đạo từ các dân tộc phát triển. Đức Phaolô đã mãnh liệt chống lại tâm thức này trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc. Ngày nay, những nguồn lợi về vật chất sẵn có cho việc phục hồi các dân tộc này khỏi cảnh nghèo khổ đang có khả năng nhiều hơn trước đây, thế nhưng họ phần lớn lại rơi vào tay của dân chúng thuộc các xứ sở phát triển, thành phần được hưởng lợi hơn từ việc giải phóng hóa đã xẩy ra nơi việc di động về vốn liếng và lao công. Việc lan truyền khắp thế giới những hình thức thịnh đạt, bởi thế, không được cố thủ bằng những dự án qui kỷ, bảo vệ hay phục vụ những lợi lộc riêng tư. Thật vậy, việc tham gia của các xứ sở đang lên hay đang phát triển là những gì giúp chúng ta có thể giải quyết khá hơn cuộc khủng hoảng ngày nay. Việc chuyển giao được chất chứa nơi tiến trình toàn cầu hóa cho thấy những khó khăn và nguy hiểm lớn lao là những gì chỉ có thể thắng vượt nếu chúng ta có được cái tinh thần nhân loại học và đạo lý học cốt yếu điều hướng vấn đề toàn cầu hóa tới mục tiêu nhân bản hóa của tình đoàn kết. Tiếc thay, tinh thần này thường bị áp đảo hay đè nén bởi những quan tâm về đạo lý và văn hóa có tính chất vị kỷ và thực dụng. Việc toàn cầu hóa là một hiện tượng đa diện và phức tạp cần phải nắm bắt về tính chất đa diện và hiệp nhất của tất cả mọi khía cạnh khác nhau, bao gồm cả chiều kích thần học. Nhờ đó mới có thể cảm nghiệm và lèo lái việc toàn cầu hóa của nhân loại một cách hữu lý, một cách hiệp thông và chia sẻ các thứ sản vật.
Chương Bốn
Việc Phát Triển của Con Người, Các Quyền Lợi và Nghĩa Vụ, Môi Trường
43. “Thực tại của tình đoàn kết nhân loại, một tình đoàn kết bổ ích cho chúng ta, cũng áp đặt một nhiệm vụ nữa” [105]. Ngày nay nhiều người cho rằng họ không nợ nần gì với ai hết, ngoại trừ chính bản thân họ. Họ chỉ quan tâm tới các thứ quyền lợi của họ, và họ thường rất khó lòng đảm nhận trách nhiệm cho việc phát triển toàn vẹn của riêng họ cũng như của người khác. Thế nên cần phải kêu gọi thực hiện một cuộc phản tỉnh mới về vấn đề làm sao những quyền lợi bao gồm cả các nhiệm vụ, để những quyền lợi ấy không trở thành một thứ thuần quyền phép [106]. Ngày nay chúng ta đang chứng kiến thấy một thứ bất nhất trầm trọng. Một đàng là những yêu cầu về các thứ quyền lợi được cho là của mình, những thứ quyền lợi độc đoán và tự bản chất không thiết yếu, được kèm theo bằng việc đòi hỏi là chúng cần phải được công nhận và cổ võ bởi các cơ cấu công cộng, trong khi đó, mặt khác, các thứ quyền lợi tối thiểu và căn bản vẫn không được công nhận và bị vi phạm nhiều trên thế giới [107]. Người ta thường thấy có sự liên kết giữa những đòi hỏi về một “thứ quyền thái quá”, thậm chí tội lỗi và đồi trụy, trong những xã hội thịnh đạt, với tình trạng thiếu thốn lương thực, nước uống, giáo dục căn bản và việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu ở những miền đất của thế giới kém phát triển cũng như ở các vùng ngoại ô thuộc các trung tâm đô thị lớn. Cái liên kết này là ở chỗ: những thứ quyền lợi cá nhân, khi bị tách khỏi một phạm trù của các thứ nhiệm vụ là những gì mang lại cho chúng trọn vẹn ý nghĩa, có thể trở thành hoang dại, dẫn tới một thứ leo thang về những đòi hỏi thực sự là vô hạn và bừa bãi. Vấn đề quá nhấn mạnh đến các thứ quyền lợi đang dẫn tới chỗ gạt bỏ ra ngoài các thứ nhiệm vụ. Những nhiệm vụ đặt giới hạn cho các quyền lợi, vì chúng hướng cái nội dung về nhân loại học và đạo đức học là những gì quyền lợi thuộc về, nhờ đó bảo đảm rằng chúng không trở thành một thứ quyền phép. Như thế các nhiệm vụ là những gì củng cố các quyền lợi và kêu gọi bênh vực cùng cổ võ các quyền lợi này như là một công việc cần phải được thực hiện để phục vụ công ích. Bằng không, nếu cái nền tảng duy nhất này của quyền lợi con người bị hội đồng công dân cân nhắc lại thì các thứ quyền lợi ấy có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, và vì thế nhiệm vụ tôn trọng và thực thi chúng bị lu mờ đi nơi ý thức chung. Các chính quyền cùng các cơ cấu quốc tế bấy giờ có thể không thấy được nữa tính chất khách quan và “bất khả vi phạm” của các quyền lợi. Khi điều ấy xẩy ra, việc phát triển đích thực của các dân tộc sẽ gặp nguy hiểm [108]. Đường lối suy nghĩ và tác hành như thế là những gì gây tổn thương cho thẩm quyền của các tổ chức quốc tế, nhất là trước mắt của những xứ sở cần phát triển nhất. Thật vậy, những xứ sở cần phát triển nhất này đòi hỏi là cộng đồng quốc tế hãy lãnh nhận nhiệm vụ giúp cho những xứ sở này trở thành “những thủ công viên cho định mệnh của họ” [109], tức là, lãnh nhận các nhiệm vụ của họ. Việc chia sẻ về các nhiệm vụ hỗ tương này là một kích thích tác hành mãnh liệt hơn là việc chỉ đòi hỏi quyền lợi.
44. Ý niệm về quyền lợi và nhiệm vụ trong vấn đề phát triển cũng cần phải được chú ý tới các vấn đề liên quan tới tình trạng phát triển về dân số. Đây là một khía cạnh rất quan trọng của việc phát triển đích thực, vì nó liên quan tới những thứ giá trị bất khả coi thường của sự sống và gia đình [110]. Việc coi vấn đề gia tăng dân số như là nguyên nhân căn bản cho tình trạng kém phát triển là lầm lẫn, thậm chí theo cả quan điểm kinh tế đi nữa. Chỉ cần xét tới, một mặt là tình trạng suy giảm đáng kể nơi mức tử vong của hài nhi và việc gia tăng trung bình tuổi thọ nơi các xứ sở phát triển về kinh tế, và một mặt là những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng xẩy ra nơi các xã hội đang được ghi nhận về tình trạng suy giảm đến độ báo động nơi mức sinh nở của họ. Cần phải hiển nhiên tỏ ra chú ý tới vấn đề truyền sinh một cách hữu trách nữa, một vấn đề, cùng với những vấn đề khác, đang góp phần tích cực để thực hiện việc phát triển toàn vẹn con người. Trong mối quan tâm của mình về việc đích thực phát triển con người, Giáo Hội kêu gọi họ hãy hoàn toàn tôn trọng các thứ giá trị nhân bản trong việc thực hiện tính dục của mình. Tính dục không thể biến thành những gì là thuần túy khoái lạc hay ăn chơi, việc giáo dục tình dục không thể biến thành một thứ hướng dẫn về kỹ thuật chỉ nhắm tới chỗ bảo vệ thành phần thích thú cho khỏi chứng bệnh khả dĩ hay khỏi bị “nguy cơ” sinh đẻ. Điều này sẽ làm suy yếu và coi thường ý nghĩa sâu xa của tính dục, một ý nghĩa cần phải được công nhận và chiếm hữu cách hữu trách chẳng những bởi cá nhân con người mà còn bởi cộng đồng nữa. Thật là vô trách nhiệm khi coi tính dục chỉ là một nguồn khoái lạc, và vì thế điều hành nó bằng những biện pháp bắt buộc ngừa thai. Trong trường hợp nào đi nữa cũng cho thấy hiện lên những ý nghĩ hay những chính sách duy vật, và con người cuối cùng bị rơi vào những hình thức vi phạm khác nhau. Để chống lại các thứ chính sách như thế, cần phải bênh vực thẩm quyền căn bản của gia đình nơi lãnh vực tính dục [111], chống lại Chính Quyền cùng với những chính sách hạn chế của nó, và để bảo đảm rằng cha mẹ được trang bị một cách thích hợp để lãnh nhận các trách nhiệm của họ.
Việc cởi mở một cách hữu trách về luân lý đối với sự sống là những gì tiêu biểu cho một nguồn phong phú về xã hội và kinh tế. Các quốc gia đông dân đã có thể vươn lên khỏi cảnh nghèo khổ là nhờ không ít ở tầm mức dân số của họ cùng với các tài năng của dân họ. Đàng khác, các quốc gia giầu thịnh trước đây hiện đang trải qua một giai đoạn bấp bênh, và ở trong một số trường hợp còn suy giảm, chính vì tình trạng giảm số sinh của họ; điều này đã từng trở thành một vấn đề trầm trọng cho các xã hội thật giầu thịnh. Tình trạng suy giảm nơi vấn đề sinh sản, suy giảm có những lúc ở bên dưới cả chỗ được gọi là “mức thay thế”, cũng gây căng thẳng cho hệ thống an sinh xã hội, gia tăng tốn phí cho các hệ thống này, thâm thủng vào những thứ tiết kiệm và vì thế các nguồn tài chính cần đến việc đầu tư, giảm bớt tính chất sẵn có của thành phần lao công chuyên nghiệp, và hạn hẹp hóa “cái quĩ não bộ” là nơi các quốc gia có thể nhờ đó thấy được các nhu cầu của mình. Ngoài ra, những gia đình bé nhỏ và có những lúc bé tí đang có nguy cơ bị suy yếu về những mối liên hệ xã hội, và không thể bảo đảm được những hình thức hiệu nghiệm của tình đoàn kết. Những trường hợp này là triệu chứng cho thấy không đủ tin tưởng vào tương lai và kiệt quệ về luân lý. Bởi thế, một lần nữa nó trở thành một nhu cầu về xã hội và thậm chí về kinh tế trong việc giữ lấy cho các thế hệ tương lai vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình, và sự kiện là các cơ cấu này đáp ứng những nhu cầu và phẩm giá sâu xa nhất của con người. Theo chiều hướng này, các Chính Quyền được kêu gọi là hãy ban hành các chính sách cổ võ tính chất tâm điểm và toàn vẹn của gia đình được đặt trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, một tế bào căn bản sống còn của xã hội [112], và lãnh trách nhiệm đối với các nhu cầu về kinh tế và tài chính, trong khi vẫn tôn trọng tính chất liên hệ thiết yếu của nó.
45. Việc nỗ lực để đáp ứng những nhu cầu sâu xa về luân lý của con người cũng gây ra những âm dội quan trọng và thiện ích ở lãnh vực kinh tế. Kinh tế cần đạo lý để hoạt động cho đúng đắn – không phải là bất cứ thứ đạo lý nào, mà là một thứ đạo lý lấy con người làm chính. Ngày nay chúng ta nghe nói nhiều về đạo lý nơi thế giới kinh tế, tài chính và thương mại. Các trung tâm nghiên cứu và các hội nghị chuyên đề về đạo lý thương mại đang gia tăng; hệ thống về chứng chỉ đạo lý đang lan tràn khắp thế giới phát triển như một phần thuộc phong trào của các ý nghĩ liên hệ với những thứ trách nhiệm của thương mại đối với xã hội. Các ngân hàng đang đề ra các trương mục “có tính cách đạo lý” và các quĩ đầu tư. “Việc tài trợ có tính cách đạo lý” là những gì đang được phát triển, nhất là qua thứ tiểu tín dụng, và phổ quát hơn, tiểu tài trợ. Những tiến trình này đáng ca ngợi và đáng được ủng hộ. Những tác dụng tích cực của chúng cũng đang được cảm nghiệm thấy nơi những miền đất kém phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cần phải phát triển một qui chuẩn lành mạnh về việc nhận thức, vì tĩnh từ “đạo lý” có thể bị lạm dụng. Khi tiếng này được sử dụng một cách tổng quát, nó có thể được giải thích bất kỳ ra sao, thậm chí cho đến độ nó bao gồm cả những quyết định và chọn lựa trái với công lý và vấn đề an sinh thực sự của con người.Thật vậy, nhiều thứ lệ thuộc vào hệ thống căn bản của luân lý. Về vấn đề này, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội có thể thực hiện một đóng góp đặc biệt, vì giáo huấn này căn cứ vào việc con người được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” (Gen 1:27), một dữ kiện làm xuất phát phẩm giá bất khả vi phạm của con người và giá trị siêu việt của các tiêu chuẩn luân lý tự nhiên. Khi đạo lý về thương mại không quan tâm tới hai trụ cột này, nó chắc chắn có nguy cơ mất đi bản chất đặc thù của mình và trở thành mồi ngon cho các hình thức khai thác; đặc biệt hơn nữa, nó có nguy cơ trở thành quị lụy cho các hệ thống kinh tế và tài chính hiện nay hơn là điều chỉnh những khía cạnh hư hoại về chức năng của chúng. Trong số những điều khác, nó có nguy cơ bị sử dụng để biện minh cho vấn đề tài trợ liên quan tới các dự án thực sự là phi đạo lý. Chữ “đạo lý”, bởi thế, không được sử dụng để thực hiện những thứ phân biệt về ý hệ, như thể cho rằng các khởi động không chính thức được phác họa sẽ không có tính cách đạo lý. Cần phải có những nỗ lực – và thực sự cần phải nói đến điều này – chẳng những để tạo nên những phần hay những đoạn “có tính cách đạo lý” của kinh tế hay của thế giới tài chính, mà còn bảo đảm là toàn thể nền kinh tế – toàn thể vấn đề tài chính – đều có tính cách đạo lý, chứ không phải chỉ là thứ nhãn hiệu bên ngoài, nhưng theo những đòi hỏi nội tại nơi chính bản chất của nó. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội hoàn toàn sáng tỏ về vấn đề này, khi nhắc nhở rằng kinh tế, nơi tất cả mọi lãnh vực của nó, là những gì tạo nên một phần của hoạt động nhân loại [113].
46. Khi chúng ta cứu xét đến những vấn đề liên quan tới mối liên hệ giữa thương mại và khoa đạo đức học, cũng như tới việc tiến hóa đang xẩy ra ở các phương pháp sản xuất, vấn đề ở đây đó là việc phân biệt giá trị theo truyền thống giữa các tổ hợp kiếm lợi và những tổ chức vô vị lợi, không còn hoàn toàn chính đáng với thực tại nữa, hay không còn cống hiến chiều hướng cụ thể cho tương lai nữa. Trong các thập niên gần đây, một lãnh vực trung dung rộng lớn đã xuất hiện giữa hai loại kinh doanh này. Nó được làm nên bởi những tổ hợp truyền thống liên kết với những tổ hợp riêng, những nhóm tổ hợp hướng đến vấn đề an sinh xã hội, và thế giới đa dạng của cái được gọi là “nền kinh tế dân sự” và “nền kinh tế của mối hiệp thông”. Đây không phải chỉ là vấn đề của “khối thứ ba”, mà là một thực tại kết hợp mới bao rộng gồm có những lãnh vực riêng tư và công cộng, một thực tại không loại trừ lợi lộc, nhưng coi lợi lộc như phương tiện để chiếm đạt các mục đích nhân bản và xã hội. Những tổ hợp ấy có phân chia các cổ phần hay chăng, cấu trúc về pháp lý của chúng có tương xứng với những hình thức được thiết lập hay chăng, đều trở thành những gì thứ yếu đối với việc chúng chấp nhận coi lợi lộc như là phương tiện để chiếm đạt mục đích của một thứ thị trường và xã hội nhân bản hơn. Hy vọng những loại kinh doanh mới này sẽ thành công trong việc tìm kiếm một cấu trúc về pháp lý và tài chính thích hợp ở mọi xứ sở. Không tác hại tới tầm quan trọng và những lợi ích về kinh tế và xã hội của những hình thức thương mại truyền thống hơn, chúng lèo lái hệ thống này tới việc chấp nhận rõ ràng và hoàn toàn hơn những nhiệm vụ thuộc về các chủ thể của kinh tế. Và không phải chỉ thế thôi. Chính tính cách đa dạng nơi những hình thức cơ cấu của vấn đề thương mại đang làm xuất hiện một thứ thị trường chẳng những văn minh hơn mà còn cạnh tranh hơn nữa.
47. Cần phải theo đuổi thực hiện việc củng cố những loại thương mại khác nhau, nhất là những loại có khả năng coi lợi lộc như phương tiện để chiếm đạt mục đích của một thị trường và xã hội nhân bản hơn, nơi các xứ sở bị loại trừ hay ở bên lề tầm ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu. Ở những xứ sở ấy, rất cần phải đẩy mạnh những dự án theo chiều hướng phụ trợ, được phác họa và điều hành cách thích hợp, nhắm đến chỗ củng cố những quyền lợi vừa kèm theo cả vấn đề đảm nhận các thứ trách nhiệm tương xứng theo đó. Trong các chương trình phát triển cần phải bảo trì nguyên tắc đặt trong tâm vào con người như là chủ thể có trách nhiệm chính về vấn đề phát triển. Quan tâm chính yếu này cần phải cải tiến các điều kiện sống thực sự của dân chúng ở một miền nào đó, nhờ đó giúp họ có thể thi hành những nhiệm vụ không thể chu toàn bởi cảnh nghèo khổ hiện tại của mình. Mối quan tâm về xã hội không bao giờ được trở thành một thái độ trừu tượng. Những chương trình phát triển, nếu chúng được thích ứng với các hoàn cảnh cá nhân, cần phải được uyển chuyển; và con người được lợi ích bởi đó cần phải trực tiếp tham dự vào việc phác họa và áp dụng chúng. Các thứ tiểu chuẩn được áp dụng cần phải tha thiết với việc phát triển gia tăng theo chiều hướng của tình đoàn kết – nhờ cẩn thận kiểm tra các thành quả – vì không có các thứ giải pháp hiệu lực phổ quát nào hết. Các chương trình được quản trị điều hành trên thực tế đều lệ thuộc rất nhiều vào đường lối của chúng. “Chính các dân tộc có trách nhiệm chính yếu trong việc hoạt động cho việc phát triển của mình. Thế nhưng, họ sẽ không hoàn thành được điều này một cách đơn độc” [114]. Những lời này của Đức Phaolô VI ngày nay lại càng hợp thời hơn bao giờ hết, khi thế giới của chúng ta càng ngày càng trở nên hội nhập hơn. Những động lực của vấn đề liên quan khó có thể là những gì tự động. Những giải pháp cần phải được thận trọng phác họa tương xứng với đời sống cụ thể của dân chúng, những giải pháp được dựa vào một thứ thẩm định khôn ngoan cho từng trường hợp. Song song với những dự án lớn cũng có chỗ cho những dự án nhỏ, nhất là cần tất cả mọi chủ thể của xã hội dân sự, cả những con người theo pháp lý và thể lý, tỏ ra tích cực vận động.
Việc cộng tác quốc tế cần đến dân chúng là thành phần có thể trở thành yếu tố cho tiến trình phát triển kinh tế và nhân bản bằng tình đoàn kết với việc hiện diện của họ, việc trông nom họ, việc huấn luyện họ và tôn trọng họ. Theo quan điểm này, tổ chức quốc tế có thể đặt lại vấn đề về sự hiệu năng thực sự của guồng máy quan lại và quản trị của mình, một guồng máy thường quá ư là tốn phí. Có những lúc xẩy ra trường hợp là những ai nhận lãnh trợ giúp lại trở thành lệ thuộc vào thành phần ra tay cứu trợ, và thành phần nghèo khổ lại phục vụ cho việc kéo dài những thứ quan liêu đắt đỏ là những gì làm tiêu hao đi một cách thái quá tỷ lệ ngân quĩ giành cho việc phát triển. Thế nên hy vọng rằng tất cả mọi cơ quan quốc tế, cũng như các tổ chức ngoài chính quyền, sẽ quyết tâm thực hành việc làm hoàn toàn liêm khiết, bằng việc thông báo cho các cống hiến viên cũng như cho quần chúng về tỷ lệ lợi tức được phân phối cho các chương trình hợp tác, nội dung thật sự của những chương trình đó, và sau hết là việc chi thu tỉ mỉ về chính cơ cấu này.
48. Ngày nay, vấn đề phát triển cũng liên quan chặt chẽ tới cả các nhiệm vụ xuất phát từ mối liên hệ của chúng ta với môi trường thiên nhiên nữa. Môi trường là tặng ân Thiên Chúa ban cho hết mọi người, và trong việc chúng ta sử dụng nó chúng ta có trách nhiệm đối với người nghèo, đối với các thế hệ tương lai cũng như với chung nhân loại. Khi thiên nhiên, bao gồm cả con người, được coi như là những gì thuần túy tình cờ hay tiến hóa định thì cảm quan về trách nhiệm của chúng ta bị yếu kém đi. Nơi thiên nhiên, thành phần tín hữu nhận thấy thành quả tuyệt vời của việc Thiên Chúa sáng tạo, những thành quả chúng ta được sử dụng một cách hữu trách để thỏa đáng các nhu cầu hợp lý của chúng ta, về vật chất hay về những gì khác, miễn là tôn trọng mức cân bằng nội tại của tạo vật. Nếu nhãn quan này bị mất đi, chúng ta sẽ tiến tới chỗ một là coi thiên nhiên như là một thứ cấm kỵ bất khả động chạm, hai là lạm dụng nó. Không một thái độ nào trong hai thái độ này hợp với nhãn quan của Kitô giáo về thiên nhiên là hoa trái của việc Thiên Chúa tạo dựng.
Thiên nhiên là những gì thể hiện dự án của yêu thương và sự thật. Nó có trước chúng ta, và nó được Thiên Chúa ban cho chúng ta như là môi trường cho đời sống của chúng ta. Thiên nhiên nói với chúng ta về Đấng Hóa Công (cf Rm 1:20) cũng như về tình Ngài yêu thương nhân loại. Nó được định liệu để “tái qui hồi” trong Chúa Kitô vào lúc tận cùng thời gian (cf. Eph 1:9-10; Col 1:19-20). Bởi thế nó cũng là một “ơn gọi” [115]. Thiên nhiên ở trong tay của chúng ta không phải như là “một đống phế thải bừa bãi” [116], mà là như một tặng ân của Đấng Hóa Công, Vị đã ban cho nó một trật tự sẵn có, giúp con người có thể rút ra từ nó những ngyyên tắc cần thiết để “canh tác và trông coi nó” (Gen 2:15). Thế nhưng, cũng cần phải nhấn mạnh rằng hoàn toàn ngược lại với việc phát triển khi coi thiên nhiên như là một cái gì đó quan trọng hơn là con người. Chủ trương này dẫn đến những thái độ của chủ nghĩa tân ngoại đạo hay một chủ nghĩa phiếm thần mới – việc cứu độ của con người không thể nào xuất phát từ nguyên thiên nhiên, được hiểu theo ý nghĩa thuần tự nhiên. Cũng cần phải loại trừ chủ trương ngược lại, một chủ trương muốn hoàn toàn làm chủ thiên nhiên bằng kỹ thuật, vì môi trường thiên nhiên không phải chỉ có nguyên chất bị mạo dụng theo sở thích của chúng ta; nó là một công cuộc tuyệt vời của Đấng Hóa Công chất chứa một thứ “văn phạm” cho thấy những mục đích và tiêu chuẩn để khôn ngoan sử dụng nó, chứ không phải để bừa bãi khai thác nó. Ngày nay việc phát triển bị tác hại nhiều chính là do bởi những ý niệm méo mó này. Việc biến thiên nhiên thành một thứ tổng hợp thuần túy những dữ kiện ngẫu nhiên sẽ tiến đến chỗ vi phạm tới môi trường, thậm chí còn khuyến khích các hoạt động không tôn trọng chính bản tính của con người nữa. Bản tính của chúng ta, không phải chỉ được tạo nên bởi vật chất mà còn bởi tinh thần, nhớ đó có được một ý nghĩa siêu việt cùng với các ước vọng, cũng là những gì có tính chất qui tắc đối với văn hóa. Con người dẫn giải và hình thành môi trường tự nhiên nhờ văn hóa, một thứ văn hóa được cống hiến hướng đi nơi việc sử dụng tự do cách hữu trách, hợp với huấn lệnh của lề luật luân lý. Bởi thế, các dự án phát triển toàn vẹn con người không thể nào coi thường các thế hệ tương lai, nhưng cần phải được đánh dấu bằng tình đoàn kết và bằng thứ công lý liên thế hệ, trong khi vẫn chú trọng tới các môi trường khác nhau: về môi sinh, pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hóa [117].
49. Những vấn đề liên quan tới việc chăm sóc và bảo trì môi trường ngày nay cần chú ý một cách thích đáng tới vấn đề năng lượng. Sự kiện xẩy ra là có một số Quốc Gia, một số nhóm và tổ hợp năng lượng đang tích trữ các nguồn năng lượng không thể phục hồi là những gì cho thấy một trở ngại trầm trọng đối với việc phát triển ở những xứ sở nghèo. Những xứ sở ấy thiếu phương tiện về kinh tế để có được những nguồn năng lượng không thể phục hồi hay là để tài trợ nghiên cứu các giải pháp mới khác. Việc tích trữ các nguồn lợi thiên nhiên, một việc cũng xuất hiện cả ở những xứ sở nghèo, gây ra một thứ khai thác và các cuộc xung đột thường xuyên giữa các quốc gia và trong các quốc gia. Những thứ xung đột này thường xẩy ra trên mảnh đất của những xứ sở ấy, với con số trầm trọng về tử vong, hủy hoại và băng hoại hơn nữa. Cộng đồng quốc tế có nhiệm vụ khẩn trương trong việc tìm kiếm phương tiện cơ cấu để điều hành việc khai thác các nguồn lợi bất khả phục hồi ấy, bao gồm cả các xứ sở nghèo trong tiến trình điều hành, để cùng nhau hoạch định cho tương lai.
Cả về phương diện này nữa, theo luân lý cũng rất cần đến tình đoàn kết mới mẻ, nhất là nơi những mối liên hệ giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia ở mức kỹ nghệ cao [118]. Những xã hội tân tiến về kỹ thuật có thể và cần phải giảm bớt việc tiêu thụ năng lượng nội địa của mình, một là bằng một thứ tiến hóa nơi các phương pháp chế tạo hay bằng việc ý thức hơn nữa về môi sinh nơi thành phần công dân của mình. Cần phải nói thêm là hiện nay có thể chiếm được tính cách hiệu năng cải tiến về năng lượng đồng thời phấn khích việc nghiên cứu các hình thức thay đổi về năng lượng. Tuy nhiên, điều cũng cần nữa đó là việc tái phân phối toàn cầu về các nguồn năng lượng, nhờ đó các xứ sở thiếu những nguồn lợi này có thể với tới chúng. Số phận của các xứ sở này không thể rơi vào tay của bất cứ ai cho mình là kẻ đầu tiên chiếm được các thứ chiến lợi phẩm, hay bất cứ ai có thể thắng vượt được những người khác. Ở đây chúng ta đang bàn tới các vấn đề chính; nếu chúng được đối đầu cách thích đáng, thì hết mọi người cần phải sáng suốt nhận ra tầm ảnh hưởng của chúng đối với các thế hệ tương lai, nhất là đối với nhiều giới trẻ ở các quốc gia nghèo khổ, thành phần “yêu cầu đảm nhận phần chủ động của mình trong việc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn” [119].
50. Trách nhiệm này là một trách nhiệm toàn cầu, vì nó liên quan chẳng những tới vấn đề năng lượng mà còn với toàn thể thiên nhiên tạo vật là những gì không được lưu lại một cách hao hụt đi các nguồn lợi của nó cho các thế hệ tương lai. Loài người hành sử một cách hợp lý một thứ vai trò quản thủ hữu trách đối với thiên nhiên, để bảo vệ nó, để hoan hưởng các hoa trái của nó và để vun trồng nó bằng những đường lối mới mẻ, nhờ sự trợ giúp của các thứ kỹ thuật tân tiến, để nó có thể xứng đáng cung ứng và phục vụ dân số thế giới. Hết mọi người đều có chỗ của mình trên trái đất này: ở nơi đây toàn thể gia đình nhân loại cần phải thấy được các nguồn lợi để sống cách xứng với phẩm giá của mình, nhờ sự giúp đỡ của chính thiên nhiên – tặng ân của Thiên Chúa ban cho con cái của Ngài – cũng như bằng việc chịu khó và óc sáng tạo. Chúng ta đồng thời cũng phải nhìn nhận phần vụ nặng nề của chúng ta trong việc trao trái đất này cho các thế hệ tương lai ở một điều kiện cả họ nữa có thể xứng đáng cư trú ở đó và tiếp tục vun trồng nó. Điều này có nghĩa là dấn thân thực hiện các quyết định chung “sau khi sáng suốt suy nghĩ về con đường cần phải theo, những quyết định nhắm tới chỗ củng cố mối giao ước giữa con người và môi trường, một giao ước cần phản ảnh tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa là Đấng chúng ta xuất phát và qui về” [120].
Chúng ta hy vọng rằng cộng đồng quốc tế và các chính quyền sẽ thành đạt trong việc đối đầu với những đường lối tai hại gây ra cho môi trường. Cũng thế, các thẩm quyền hữu trách phải hết sức bảo đảm là những tốn phí về kinh tế và xã hội trong việc sử dụng hết các nguồn lợi chung về môi trường được minh bạch tường trình và hoàn toàn sinh lợi bởi những ai có trách nhiệm, không phải bởi những người khác hay bởi các thế hệ tương lai: việc bảo về môi trường, các nguồn lợi và khí hậu là những gì buộc tất cả mọi vị lãnh đạo quốc tế hợp nhau tác hành và tỏ ra sẵn sàng làm việc cách thành tâm, tôn trọng luật pháp và cổ võ tình đoàn kết với các miền yếu kém trên thế giới này [121]. Một trong những thách đố lớn lao nhất gây khó dễ cho nền kinh tế đó là việc đạt được việc sử dụng hữu hiệu nhất – chứ không phải lạm dụng – các nguồn lợi thiên nhiên, dựa trên một thứ hiện thực hóa ý niệm về “tính cách hữu hiệu” không phải là một thứ phi giá trị.
51. Đường lối nhân loại đối xử với môi trường là những gì ảnh hưởng tới đường lối nhân loại đối xứ với chính mình, hay ngược lại. Điều này kêu gọi xã hội hiện nay hãy nghiêm cẩn xét lại lối sống của mình, một lối sống mà ở nhiều phần đất trên thế giới, đang hướng về chủ nghĩa khoái lạc và hưởng thụ, bất kể những hậu quả tai hại của chúng [122]. Điều cần thiết đó là một chuyển hướng hữu hiệu về một thứ tâm thức có thể dẫn tới chỗ chấp nhận những lối sống mới là những lối sống mà việc tìm cầu chân, thiện, mỹ và mối hiệp thông với nhau vì sự phát triển chung là những yếu tố quyết định việc chọn lựa, tiết kiệm và đầu tư vấn đề tiêu thụ” [123]. Hết mọi thứ vi phạm đến tình đoàn kết và mối thân hữu dân sự đều tác hại tới môi trường, như tình trạng suy yếu về môi trường ngược lại làm đảo lộn những mối liên hệ trong xã hội vậy. Thiên nhiên, nhất là trong thời đại của chúng ta, rất hội nhập với guồng máy sinh động của xã hội và văn hóa là những gì hiện nay khó có thể tạo nên một thứ khả biến độc lập. Tình trạng sơ xác khô cằn và suy đồi nơi việc sản xuất ở một số miền nông nghiệp cũng là hậu quả của vấn đề kiệt quệ và kém phát triển nơi thành phần dân cư của chúng. Chính thiên nhiên sẽ được bảo vệ khi có những kích tố cho việc phát triển về kinh tế và văn hóa. Ngoài ra, biết bao nhiêu là nguồn lợi thiên nhiên đã bị chiến tranh phung phá! Hòa bình nơi và giữa các dân tộc cũng giúp nhiều hơn cho việc bảo vệ thiên nhiên. Việc tích trữ các nguồn lợi, nhất là nước, có thể gây ra các cuộc xung đột trầm trọng giữ thành phần dân chúng trong cuộc. Việc vui vẻ đồng ý với nhau về vấn đề sử dụng các nguồn lợi có thể bảo vệ thiên nhiên và đồng thời cả mối phúc hạnh của các xã hội liên quan nữa.
Giáo Hội có trách nhiệm đối với thiên nhiên tạo vật và Giáo Hội cần phải cương quyết thi hành trách nhiệm này trong đời sống xã hội. Để thực hiện điều này, Giáo Hội cần phải bênh vực chẳng những trái đất, nước, và không khí như là tặng ân của việc tạo dựng thuộc về hết mọi người. Trên hết Giáo Hội bảo vệ nhân loại khỏi bị tự hủy. Cái được gọi là sinh thái về nhân bản cần phải được hiểu cách đúng đắn. Tình trạng suy thoái về thiên nhiên thực sự liên hệ chặt chẽ với thứ văn hóa hình thành việc chung sống của con người, ở chỗ, khi “sinh thái về nhân bản” [124] được tôn trọng trong xã hội thì sinh thái về môi trường cũng được phúc lợi. Như các nhân đức của con người là những gì tương liên với nhau, đến độ một nhân đức yếu kém gây cho những nhân đức khác nguy hiểm thế nào, thì hệ thống về sinh thái là những gì được căn cứ vào vấn đề tôn trọng dự án cũng ảnh hưởng tới cả tình trạng lành mạnh của xã hội và mối liên hệ tốt đẹp của nó với thiên nhiên.
Để bảo vệ thiên nhiên, việc can thiệp của những kích tố hay cản trở về kinh tế cũng không đủ; thậm chí cả đến vấn đề giáo dục cách thích đáng cũng không đủ. Đó là những cách thức quan trọng, thế nhưng vấn đề quyết liệt ở đây là chiều hướng luân lý chung của xã hội. Nếu không biết tôn trọng quyền sống và quyền chết tự nhiên, nếu việc thụ thai con người, cưu mang và sinh nở một cách nhân tạo, nếu các phôi thai bào con người bị hy sinh cho việc nghiên cứu, thì lương tâm của xã hội sẽ tiến tới chỗ mất đi ý niệm đối với vấn đề sinh thái về nhân bản, theo đó, cả vấn đề sinh thái về môi trường nữa.
Thật là mâu thuẫn khi nhấn mạnh rằng các thế hệ tương lai tôn trọng môi trường thiên nhiên khi các hệ thống giáo dục của chúng ta cùng với những luật lệ lại không giúp chúng tôn trọng chính bản thân chúng. Cuốn sách về thiên nhiên là một cuốn sách duy nhất và bất khả phân chia: nó bao gồm chẳng những môi trường mà còn cả sự sống, tính dục, hôn nhân, gia đình, các mối liên hệ về xã hội nữa: tóm lại là vấn đề phát triển toàn vẹn con người. Những nhiệm vụ của chúng ta đối với môi trường là những gì liên hệ với các nhiệm vụ của chúng ta đối với con người là thành phần được thấy nơi chính mình và liên hệ với nhau. Thật là sai lầm khi chủ trương một loạt những nhiệm vụ trong khi đó lại chà đạp lên các nhiệm vụ khác. Vấn đề ở đây đó là cái mâu thuẫn ngược ngạo trầm trọng nơi tâm thức của chúng ta với việc thực hành ngày nay: một thứ nghịch ngược hạ giá con người, lũng đoạn môi sinh và tác hại xã hội.
52. Chân lý, và tình yêu được nó tỏ lộ, không thể là những gì được sản xuất ra: chúng chỉ có thể được lãnh nhận như là một tặng ân. Nguồn mạch tối hậu của chúng không phải là và không thể là nhân loại mà chỉ là Thiên Chúa, Đấng chính là Chân Lý và Tình Yêu. Nguyên tắc này hết sức quan trọng đối với xã hội cũng như đối với việc phát triển, vì chẳng có điều nào trong chúng có thể thuần túy là sản phẩm của nhân loại; ơn gọi phát triển về phần cá nhân và chư dân không dựa duy vào việc chọn lựa của con người, mà là một phần duy nhất của dự án có trước chúng ta và tạo nên một nhiệm vụ cần tất cả chúng ta tự nguyện chấp nhận. Những gì có trước chúng ta và tạo nên chúng ta – Tình yêu và Chân Lý tồn tại – cho chúng ta thấy sự thiện hảo là gì và niềm hạnh phúc chân thực của chúng ta là ở chỗ nào. Nó cho chúng ta thấy con đường dẫn đến chỗ phát triển thực sự.
Chương Năm
Việc Hợp Tác của Gia Đình Nhân Loại
53. Một trong những hình thức sâu xa nhất của nghèo khó người ta có thể cảm nghiệm thấy đó là cảnh cô lập. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn các loại nghèo khổ khác, bao gồm cả những hình thức nghèo khổ về vật chất, chúng ta thấy rằng chúng xuất phát từ cảnh cô lập, từ tình trạng không được yêu thương hay từ những khó khăn để có thể yêu thương. Tình trạng nghèo khổ thường được xuất phát từ việc ruồng bỏ tình yêu của Thiên Chúa, bằng khuynh hướng căn bản và thảm thê của con người trong việc khép mình lại, nghĩ rằng tự mình đã đủ cho mình hay chỉ là một sự kiện tầm thường và phù du, một “kẻ lạ” trong một vũ trụ ngẫu nhiên. Con người trở nên xa lạ khi họ lẻ loi một mình, khi họ tách mình khỏi thực tại, khi họ không nghĩ đến và tin tưởng vào một nền tảng [125]. Tất cả nhân loại trở nên xa lạ khi đặt tin tưởng quá nhiều vào nguyên những dự phóng của con người, những ý hệ và những không tưởng sai lầm [126]. Ngày nay, nhân loại trở nên giao tiếp với nhau hơn trong quá khứ: Cảm quan chung về sự gần gũi nhau này cần phải được biến đổi thành mối hiệp thông thật sự. Việc phát triển của các dân tộc lệ thuộc trước hết vào vấn đề nhìn nhận rằng nhân loại là một gia đình duy nhất cùng nhau làm việc trong mối hiệp thông chân thực, chứ không phải chỉ là một nhóm của các chủ thể tự nhiên sống bên nhau [127].
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ghi nhận rằng “thế giới này đang bị trục trặc vì thiếu suy nghĩ” [128]. Ngài nêu lên một nhận định, thế nhưng cũng bày tỏ một ước muốn, đó là cần một đường lối suy nghĩ mới để đạt tới một kiến thức tốt đẹp hơn về những hàm ý của vấn đề một gia đình duy nhất; việc giao liên giữa chư dân trên thế giới kêu gọi chúng ta hãy bắt đầu đường lối mới mẻ này, nhờ đó vấn đề hội nhập là những gì tiêu biểu cho tình đoàn kết [129] hơn là tình trạng bị trừ khử. Việc suy nghĩ theo kiểu này cần đến một thẩm định nghiêm cẩn sâu xa hơn về thứ loại của mối liên hệ. Đây là một công việc không thể đảm nhận bởi một mình các khoa xã hội học, vì cần có cả sự đóng góp của khoa thần học và siêu hình học nữa, nếu hiểu một cách thích đáng phẩm vị siêu việt của con người.
Là một hữu thể có hồn thiêng, loài người tạo vật được định hình nhờ những tương quan liên bản vị. Họ càng sống đích thực những mối liên hệ này thì căn tính bản vị của họ càng trưởng thành. Không phải là nhờ ở việc cô lập mà con người thiết lập giá trị của mình, mà là nhờ việc giao tiếp mình với người khác cũng như với Thiên Chúa. Thế nên những mối liên hệ này có một tầm vóc thật quan trọng. Cả về các con người cũng đúng như thế nữa. Một thứ kiến thức siêu hình về các mối liên hệ giữa con người với nhau bởi thế mang lại nhiều ích lợi cho việc phát triển của họ. Về vấn đề này, lý trí tìm thấy hứng khởi và hướng đi nơi mạc khải của Kitô giáo, một mạc khải cho thấy cộng đồng nhân loại không hút mất cá nhân, bằng việc làm tiêu tan đi tính cách tự động của họ, như từng xẩy ra nơi những hình thức khác nhau của chủ nghĩa độc tài toàn trị, trái lại càng coi trọng họ vì mối liên hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một liên hệ giữa một tổng thể này với một tổng thể khác [130]. Như một gia đình không nhận chìm đi các căn tính của mỗi phần tử mình thế nào, và như Giáo Hội hoan hỉ trong mỗi “tạo vật mới” (Gal 6:15; 2Cor 5:17) được Phép Rửa tháp nhập vào Thân Thể sống động của mình, thế nào, cũng vậy, mối hiệp nhất của gia đình nhân loại không nhận chìm những căn tính của các cá nhân, của các dân tộc và của các nền văn hóa, nhưng làm cho chúng càng rõ nét đối với nhau và liên kết chúng chặt chẽ hơn nơi tính chất đa dạng hợp tình hợp lý của chúng.
54. Đề tài phát triển có thể đồng hóa với mối liên hệ bao gồm của tất cả mọi cá nhân và các dân tộc trong một cộng đồng duy nhất của gia đình nhân loại, một cộng động được xây dựng một cách đoàn kết trên nền tảng của các thứ giá trị công lý và hòa bình cốt yếu. Viễn ảnh này được chiếu giãi một cách mạnh mẽ nơi mối liên hệ giữa các Ngôi Vị Ba Ngôi trong một Bản Thể duy nhất. Ba Ngôi là một hiệp nhất tuyệt đối vì ba Ngôi Vị thần linh là một liên hệ thuần túy. Tính chất trong sáng hỗ tương giữa các Ngôi Vị thần linh là những gì hoàn toàn và mối liên hệ giữa mỗi Ngôi là những gì trọn vẹn, vì Ba Ngôi tạo nên một mối hiệp nhất chuyên biệt và tuyệt đối. Thiên Chúa muốn tháp nhập chúng ta vào thực tại hiệp thông này nữa: “để họ được nên một như chúng ta là một” (Jn 17:22). Giáo Hội là dấu hiệu và là dụng cụ cho mối hiệp nhất này [131]. Những mối liên hệ giữa con người qua giòng lịch sử không thể trở nên phong phú nếu không căn cứ vào kiểu mẫu thần linh này. Trong ánh sáng của mầu nhiệm được mạc khải về Chúa Ba Ngôi chúng ta đặc biệt hiểu được rằng việc thực sự cởi mở không có nghĩa là làm mất đi căn tính cá thể mà là một thứ liên thấu sâu xa. Điều này cũng thấy được từ những kinh nghiệm chung của con người về yêu thương và sự thật. Như tình yêu theo bí tích của đôi phối ngẫu liên kết họ một cách linh thiêng thành “một xác thịt” (Gen 2:24; Mt 19:5; Eph 5:31) và biến cả hai thành một mối hiệp nhất thực sự và liên hệ thế nào, cũng thế, một cách tương tự, chân lý liên kết các tinh thần và khiến cho cho các tinh thần này nghĩ tưởng một cách hòa hợp, bằng cách thu hút những tinh thần này như là một mối hiệp nhất đối với nó.
55. Mạc khải Kitô giáo về mối hiệp nhất của gia đình nhân loại bao hàm một ý nghĩa siêu hình học về “humanum – nhân loại” là ý nghĩa chất chứa yếu tố thiết yếu về liên hệ tính. Các nền văn hóa và tôn giáo khác giảng dạy về tình huynh đệ và nền hòa bình và vì thế góp phần hết sức quan trọng vào việc phát triển toàn vẹn con người. Tuy nhiên, có một số thái độ về tôn giáo và văn hóa không hoàn toàn chấp nhận nguyên tắc yêu thương và chân lý, do đó, đi đến chỗ làm trì trệ, thậm chí làm cản trở việc phát triển đích thực của con người. Có một số nền văn hóa về tôn giáo trên thế giới ngày nay không buộc con người nam nữ sống trong mối hiệp thông, mà là chia cắt họ ra để tìm kiếm phúc hạnh cá nhân, một thứ phúc hạnh làm thỏa mãn những ước muốn về tâm lý. Ngoài ra, tình trạng đang phát triển “những đường lối” tôn giáo khác nhau, thu hút những nhóm nhỏ, thậm chí những cá nhân, cùng với chủ trương hòa đồng tôn giáo, có thể gây ra tình trạng tách biệt và phân rẽ. Một tác dụng tiêu cực khả dĩ của tiến trình toàn cầu hóa đó là khuynh hướng thiên về thứ chủ trương hòa đồng tôn giáo này [132], bằng việc khuyến khích các hình thức “tôn giáo”, thay vì mang dân chúng lại với nhau, làm cho họ xa cách nhau và tách họ khỏi thực tại. Đồng thời cũng có một số truyền thống tôn giáo và văn hóa cứ gắn chặt với những gì làm cho xã hội bị xương xẩu hóa với các nhóm xã hội cứng ngắc, với các niềm tin mê hoặc không tôn trọng phẩm giá con người, và với những thái độ nô dịch cho các quyền lực huyền bí. Trong các bối cảnh ấy, yêu thương và chân lý khó lòng được thể hiện, và việc phát triển chân thực bị cản trở.
Đó là lý do, trong khi thật sự là việc phát triển cần đến các tôn giáo và văn hóa của những dân tộc khác nhau, thì vấn đề nhận thức cách thích đáng cũng cần không kém. Tự do tôn giáo không có nghĩa là trung lập về tôn giáo, cũng không có nghĩa là tất cả mọi tôn giáo đều bằng nhau [133]. Cần phải nhận thức đối với việc đóng góp của các nền văn hóa và tôn giáo, nhất là về phía những ai nắm quyền lực chính trị, nếu cộng đồng xã hội muốn được xây dựng trong tinh thần tôn trọng công ích. Việc nhận thức như thế cần phải căn cứ vào các qui chuẩn bác ái và chân lý. Vì việc phát triển của các con người và các dân tộc đang gặp nguy hiểm mà việc nhận thức này cần phải lưu ý tơiù nhu cầu lan tỏa và gồm tóm, trong bối cảnh của một cộng đồng nhân loại thực sự toàn cầu. “Toàn thể con người và tất cả mọi người” cũng là một qui chuẩn để thẩm định các nền văn hóa và tôn giáo. Kitô giáo, một tôn giáo của một Vị Thiên Chúa có dung nhan con người” [134], chất chứa chính cái qui chuẩn này nơi nó.
56. Kitô giáo và các tôn giáo khác có thể cống hiến việc đóng góp của mình vào việc phát triển chỉ khi nào Thiên Chúa có được một chỗ đứng trong lãnh vực công chúng, nhất là liên quan tới những chiều kích văn hóa, xã hội, kinh tế và đặc biệt là chính trị của lãnh vực công chúng này. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội được hình thành để đòi hỏi “vai trò làm công dân” cho Kitô giáo [135]. Việc chối bỏ quyền tuyên xưng niềm tin của con người nơi công cộng và quyền làm chứng cho những chân lý của đức tin nơi đời sống chung gây ra những hậu quả tiêu cực cho việc phát triển chân thực. Việc loại trừ tôn giáo ra khỏi quần chúng – và, hoàn toàn ngược lại, chủ nghĩa duy bảo thủ tôn giáo – đều cản trở việc gặp gỡ giữa những con người cùng với các đóng góp của họ cho tình trạng tiến bộ của con người. Đời sống quần chúng bị kiệt quệ hứng khởi của mình và chính trị chiếm vai chủ chốt và trở nên hung hãn. Các thứ nhân quyền có cơ nguy bị coi thường, hoặc vì chúng bị cướp lột cái nền tảng siêu việt của chúng hay vì quyền tự do cá nhân không được công nhận. Chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa bảo thủ loại trừ đi tiềm năng của việc đối thoại tốt đẹp cũng như việc hợp tác hiệu năng giữa lý trí và niềm tin tôn giáo. Lý trí bao giờ cũng cần phải được đức tin thanh tẩy: điều này cũng đúng với cả lý trí về chính trị, một thứ lý trí không được coi mình là toàn năng. Về phần mình, tôn giáo bao giờ cũng cần phải được lý trí thanh luyện để cho thấy bộ mặt con người chân thực của nó. Bất cứ vấp gẫy nào xẩy ra trong cuộc đối thoại này thì việc phát triển của con người đều phải trả một giá khủng khiếp.
57. Cuộc đối thoại mang lại hoa trái giữa đức tin và lý trí chỉ có thể làm cho hoạt động bác ái trở nên hiệu năng hơn trong xã hội, và nó tạo nên cái cung cách thích đáng nhất trong việc cổ võ việc hợp tác huynh đệ giữa thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng nơi việc họ cùng nhau dấn thân hoạt động cho công lý và hòa bình của gia đình nhân loại. Trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng Và Hy Vọng, các vị nghị phụ của Công Đồng chủ trương rằng “thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng hầu như đồng loạt chấp nhận rằng tất cả mọi sự trên thế gian này cần phải được hướng về con người như là trung tâm và tột đỉnh của chúng” [136]. Đối với thành phần tín ngưỡng thì thế giới này không xuất phát từ ngẫu nhiên mù quáng hay từ cái hết sức thiết yếu mà là từ dự án của Thiên Chúa. Đó là những gì khiến cho thành phần tín ngưỡng phải có nhiệm vụ liên kết nỗ lực của mình với nỗ lực của tất cả mọi con người nam nữ thiện chí, với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác cũng như với thành phần vô tín ngưỡng, nhờ đó thế giới này của chúng ta mới có thể hiệu nghiệm đáp ứng dự án thần linh, ở chỗ sống với nhau như là một gia đình dưới ánh mắt trông coi của Thiên Chúa. Một biểu lộ đặc biệt của đức bác ái và một qui chuẩn hướng dẫn cho việc hợp tác huynh đệ giữa thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng thật sự là nguyên tắc phụ trợ [137], một thể hiện quyền tự do bất khả tách lìa của con người. Việc phụ trợ trước hết và trên hết là một hình thức trợ giúp cho con người nhờ sự tự động của các cơ cấu trung gian. Việc trợ giúp như thế được cống hiến khi cá nhân con người hay các nhóm người không thể tự mình hoàn thành một điều gì đó, và bao giờ nó cũng nhắm đến chỗ giải phóng họ, vì nó nuôi dưỡng tự do cùng với việc tham dự nhờ ở chỗ họ lãnh nhận trách nhiệm. Việc phụ trợ tỏ ra tôn trọng phẩm vị cá nhân khi nhìn nhận nơi con người này một chủ thể bao giờ cũng có khả năng cống hiến một cái gì đó cho người khác. Khi coi tính cách hỗ tương như tâm điểm của những gì phải là một con người, sự phụ trợ là một kháng tố hiệu nghiệm nhất chống lại với bất cứ hình thức nào của trạng thái an sinh gồm tóm mọi sự. Nó có thể chú trọng tới cả vấn đề phác họa những dự án đa diện – vì thế chú trọng tới tính chất đa dạng của chủ thể – cũng như tới việc điều hợp của các dự án ấy. Thế nên nguyên tắc phụ trợ đặc biệt xứng hợp với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa và việc điều khiến nó hướng tới việc phát triển con người chân thực. Để đừng sản xuất ra một thứ quyền lực hoàn vũ nguy hiểm có một bản chất chuyên chế bạo ngược, việc quản trị vấn đề toàn cầu hóa cần phải có tính chất phụ trợ, một thứ phụ trợ có vài tầng lớp ăn khớp với nhau và bao gồm những mức độ khác nhau có thể cùng nhau làm việc. Vấn đề toàn cầu hóa chắc chắn cần đến quyền bính, vì nó động thới vấn đề của một thứ công ích toàn cầu cần phải được theo đuổi thực hiện. Tuy nhiên, quyền bính này cần phải tổ chức một cách phụ trợ và phân tầng [138], nếu không muốn nó vi phạm tới quyền tự do và nếu muốn nó mang lại thành quả trong thực hành.
58. Nguyên tắc phụ trợ cần phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc đoàn kết và ngược lại, vì nguyên tắc trước mà thiếu nguyên tắc sau thì mở đường cho chủ nghĩa riêng tư xã hội, và nếu nguyên tắc sau thiếu nguyên tắc trước thì dẫn lối cho thứ trợ giúp xã hội trịch thượng coi thường thành phần nghèo nàn thiếu thốn. Luật chung này cũng cần phải rộng rãi cứu xét khi giải quyết những vấn đề liên quan tới việc trợ giúp phát triển quốc tế. Việc trợ giúp như thế, bất kỳ ý định của thành phần cống hiến ra sao, đôi khi có thể đẩy dân chúng vào tình trạng lệ thuộc, thậm chí còn gây ra những trường hợp đàn áp ở địa phương và vấn đề bóc lột ở quốc gia lãnh nhận. Việc trợ giúp kinh tế, để thực sự đạt được mục đích của nó, không được theo đuổi những mục tiêu phụ. Nó cần phải được phân phát với sự tham gia chẳng những của các chính quyền của những xứ sở lãnh nhận, mà còn của các tác nhân về kinh tế ở địa phương cùng với thành phần đi làm văn hóa trong xã hội dân sự nữa, bao gồm cả các Giáo Hội địa phương. Những chương trình cứu trợ cần phải gia tăng tính chất tham dự và hoàn trọn từ gốc rễ của nó. Thật vậy, những nguồn lợi giá trị nhất ở các xứ sở nhận lãnh trợ giúp phát triển là những nguồn lợi về nhân bản, một nguồn lợi chất chứa cái vốn liếng thực sự cần phải được tích lũy để bảo đảm một tương lai tự lập thực sự cho các xứ sở nghèo khổ. Cũng cần phải nhớ rằng, ở lãnh vực kinh tế, hình thức chính của vấn đề trợ giúp cần thiết nơi các quốc gia đang phát triển đó là hình thức cho phép và khuyến khích việc từ từ thấm nhập các thứ sản phẩm của họ vào những thị trường quốc tế, nhờ đó những xứ sở này có thể hoàn toàn tham phần vào sinh hoạt kinh tế quốc tế. Trong quá khứ rất thường xẩy ra là việc viện trợ góp phần tạo nên những thứ thị trường lẻ đối với các thứ sản phẩm của những xứ sở hiến tặng này. Điều này xẩy ra vì thường thiếu nhu cầu đích thực đối với những sản phẩm được đặt ra ấy: vì thế cần phải giúp các xứ sở như thế cải tiến những sản phẩm của họ và thích ứng một cách hiệu nghiệm hơn với nhu cầu hiện hữu. Ngoài ra, có những người sợ các hậu quả của việc cạnh tranh nơi việc nhập cảng các thứ sản phẩm – bình thường là các sản phẩm về nông nghiệp – từ các quốc gia nghèo về kinh tế. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng đối với các xứ sở như vậy thì tiềm năng quảng bá những sản phẩm của họ rất thường là những gì bảo đảm việc tồn tại của họ cả trong trường hợp ngắn hạn lẫn dài hạn. Vấn đề mậu dịch quốc tế cách chính đáng và bình đẳng nơi các sản phẩm về canh nông cần phải mưu ích cho hết mọi người, cả thành phần cung cấp lẫn thành phần tiêu thụ. Vì lý do này, chẳng những cần phải thực hiện việc hướng dẫn thương mại về vấn đề sản xuất loại này, mà còn thiết lập những qui định mậu dịch quốc tế để nâng đỡ nó và tài trợ hơn nữa cho việc phát triển để gia tăng khả năng sản xuất của các ngành kỹ nghệ ấy.
59. Việc hợp tác cho vấn đề phát triển không được chỉ quan tâm tới chiều kích kinh tế: nó phải cống hiến một cơ hội tuyệt vời cho việc gặp gỡ giữa các nền văn hóa và dân chúng. Nếu các phía tham gia vào việc cộng tác ở về bên các xứ sở phát triển về kinh tế – như có khi xẩy ra – không lưu ý tới căn tính văn hóa riêng của mình hay của người khác, hoặc các thứ gia trị nhân bản làm nên căn tính này, thì họ không thể tham dự vào một cuộc đối thoại có ý nghĩa với thành phần công dân của các xứ sở nghèo. Nếu các xứ sở nghèo, về phần mình, lại cởi mở một cách thiếu sáng suốt và bừa bãi đối với hết mọi thứ đề xuất về văn hóa, họ sẽ không còn ở trong vị thế đảm nhận trách nhiệm đối với việc phát triển đích thực của riêng mình nữa [139]. Các xã hội tân tiến về kỹ thuật không được xáo trộn việc phát triển về kỹ thuật của mình với một thứ nắm giữ ưu thế về văn hóa, trái lại, cần phải tái khám phá nơi mình những thứ đức hạnh thường bị quên lãng giúp họ có thể triển nở khắp giòng lịch sử của họ. Các xã hội đang tiến hóa cần phải trung thành với tất cả những gì thực sự là nhân bản nơi các truyền thống của mình, tránh lánh khuynh hướng phủ lấp mình một cách tự động bằng những động lực của một thứ văn minh kỹ thuật được toàn cầu hóa. Nơi tất cả mọi nền văn hóa, có những gương mẫu về vấn đề tụ hội đạo lý, một số thì bị cô lập, một số thì tương liên, như là một thể hiện của một bản tính con người duy nhất theo ý muốn của Tạo Hóa; truyền thống của sự khôn ngoan về đạo lý này cho điều này như là luật tự nhiên [140]. Luật luân lý phổ quát này cung cấp một nền tảng lành mạnh cho tất cả mọi cuộc đối thoại về văn hóa, tôn giáo và chính trị, và nó bảo đảm rằng vấn đề đa nguyên muôn mặt nơi tính chất đa dạng về văn hóa là những gì không tách mình ra khỏi việc cùng tìm cầu chân lý, thiện hảo và Thiên Chúa. Bởi thế, việc gắn bó với luật lệ được ghi khắc nơi tâm can con người là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi việc hợp tác xây dựng về xã hội. Hết mọi nền văn hóa đều có những gánh nặng nó cần phải được giải cứu và những bóng tối nó cần phải được thoát ra. Đức tin Kitô giáo, nhờ việc hội nhập vào các nền văn hóa và đồng thời siêu vượt hơn chúng, có thể giúp chúng tăng trưởng trong tình huynh đệ và kết đoàn phổ quát, cho việc tiến bộ của vấn đề phát triển toàn cầu và cộng đồng.
60. Trong việc tìm kiếm những giải pháp cho cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, việc cứu trợ về phát triển cho các xứ sở nghèo khổ cần phải được coi là phương tiện hữu hiệu để tạo nên thịnh vượng cho tất cả mọi người. Chương trình trợ giúp nào có thể nắm giữ những viễn ảnh tăng trưởng khả quan như thế – cho dù theo quan điểm của nền kinh tế thế giới – như một thứ nâng đỡ cho thành phần dân chúng vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khởi hay ban đầu của việc phát triển về kinh tế? Theo quan điểm ấy, các quốc gia càng phát triển về kinh tế lại càng cần phải làm hết sức mình để phân phối những phần lớn của tổng sản lượng nội quốc cho việc trợ giúp phát triển, nhờ đó tỏ ra tôn trọng những trách nhiệm cộng đồng quốc tế cần phải đảm đương về vấn đề này. Một trong những cách thức để thực hiện điều này đó là kiểm điểm lại việc trợ giúp xã hội cùng với các chính sách về an sinh trong nội bộ của mình, bằng cách áp dụng nguyên tắc phụ trợ và bằng việc tạo nên các hệ thống an sinh hội nhập với nhau cách tốt đẹp hơn, với sự tham dự chủ động của các cá nhân cũng như của xã hội dân sự. Nhờ đó, nó thực sự có thể cải tiến các thứ dịch vụ xã hội cùng những chương trình an sinh, đồng thời còn giữ được các nguồn lợi – bằng việc loại trừ thừa thãi và loại bỏ những thứ đòi hỏi gian lận – là những gì bấy giờ có thể sử dụng vào tình đoàn kết quốc tế. Một hệ thống được ủy thác và lớp lang hơn về tình đoàn kết xã hội, ít quan lại nhưng vẫn không kém phối trí, sẽ có thể giúp khai thác được nhiều sinh lực thầm lặng cho lợi ích của tình đoàn kết giữa các dân tộc.
Một giải pháp khả dĩ cho vấn đề trợ giúp phát triển đó là việc áp dụng một cách hiệu nghiệm những gì được coi là vấn đề phụ trợ về tài chính, cho phép thành phần công dân quyết định cách thức phân phối một phần của các thứ thuế khoá họ trả cho Chính Quyền. Nếu nó không thoái hóa thành việc cổ võ cho các thiện ích riêng biệt thì điều này có thể giúp kích thích các hình thức của tình trạng đoàn kết về an sinh từ bên dưới, với những thiện ích hiển nhiên ở lành vực đoàn kết cho việc phát triển nữa.
61. Tình đoàn kết rộng lớn hơn ở tầm cấp quốc tế đặc biệt được thấy theo chiều hướng liên tục cổ võ – thậm chí giữa cuộc khủng hoảng về kinh tế – phương tiện nhiều hơn nữa cho vấn đề giáo dục, một vấn đề giáo dục đồng thời cũng là một điều kiện tiên quyết thiết yếu cho vấn đề hợp tác quốc tế cách hiệu năng. Chữ “giáo dục” ám chỉ chẳng những tới việc dạy học ở trường và việc huấn nghệ – cả hai đều là những yếu tố quan trọng nơi vấn đề phát triển – mà tới việc hình thành trọn vẹn con người nữa. Về vấn đề này, có một vấn đề cần được nhấn mạnh, đó là, để giáo dục, cần phải biết bản tính của con người, biết họ là ai. Vấn đề càng ngày càng thịnh hành về một thứ kiến thức có tính chất tương đối thuyết về bản tính này cho thấy các vấn đề trục trặc trầm trọng đối với vấn đề giáo dục, nhất là vấn đề giáo dục về luân lý, gây nguy hiểm cho chiều kích phổ quát của vấn đề giáo dục về luân lý này. Chiều theo thứ chủ nghĩa tương đối này làm cho hết mọi người trở thành bần cùng hơn và tạo ra một tác dụng tiêu cực về tính chất hiệu năng của việc trợ giúp cho thành phần túng thiếu nhất, thành phần thiếu chẳng những phương tiện kinh tế và kỹ thuật, mà còn cả những phương pháp và nguồn liệu giáo dục để trợ giúp dân chúng nhận ra trọn vẹn tiềm năng nhân bản của họ.
Một trưng dẫn về tầm quan trọng của vấn đề này được cho thấy bởi hiện tượng du lịch quốc tế [141], một thứ du lịch có thể là yếu tố chính nơi việc phát triển về kinh tế và tăng trưởng về văn hóa, nhưng đồng thời nó cũng có thể trở thành một cơ hội khai thác và suy đồi về luân lý. Tình hình hiện nay đang cống hiến những cơ hội đặc biệt cho các khía cạnh phát triển về kinh tế – tức là vấn đề luân chuyển tiền bạc và việc xuất hiện của một số kinh doanh địa phương khả quan – cần phải được kết hợp với những khía cạnh về văn hóa, mà khía cạnh chính là vấn đề giáo dục. Trong nhiều trường hợp đó là những gì đang xẩy ra, thế nhưng, ở những trườnmg hợp khác, vấn đề du lịch quốc tế lại có một ảnh hưởng tiêu cực về giáo dục cả cho thành phần du khách lẫn dân chúng địa phương. Thành phần dân chúng địa phương thường bị rơi vào những hình thức tác hành vô luân hay thậm chí bại hoại, như trong trường hợp của cái được gọi là du lịch tính dục, thứ du lịch mà nhiều con người bị hy sinh thậm chí ở vào tuổi non dại. Thật là buồn khi ghi nhận rằng hoạt động này thường xẩy ra với sự hỗ trợ của các chính quyền địa phương, với sự câm lặng từ những chính quyền thuộc các xứ sở gốc gác của thành phần du lịch ấy, và với việc đồng lõa của nhiều thành phần hành nghề du lịch. Thậm chí trong cả những trường hợp ít trầm trọng hơn, việc du lịch quốc tế thường theo đuổi một kiểu mẫu hưởng thụ và khoái thú, như là một hình thức thoát ly thực tế được hoạch định một cách thông dụng của các xứ sở gốc gác, và vì thế không có lợi cho việc gặp gỡ chính thực giữa con người và văn hóa. Thế nên, chúng ta cần khai triển một kiểu du lịch khác có khả năng cở võ viện hiểu biết nhau, mà không lấy mất yếu tố nghĩ ngơi và giải trí lành mạnh. Việc du lịch kiểu này cần phải được gia tăng, một phần nhờ việc điều hợp sát cận hơn với kinh nghiệm có được từ việc hợp tác và kinh doanh quốc tế cho vấn đề phát triển.
62. Một khía cạnh khác của vấn đề phát triển toàn vẹn con người đáng lưu ý nữa đó là hiện tượng di dân. Đây là một hiện tượng nổi nang về con số người ở trong cuộc, về những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo do nó gây ra, và về những thách đố ghê gớm nó đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang đối diện với một hiện tượng xã hội đáng làm thành lịch sử của kỷ nguyên này đang cần đến những chính sách vững mạnh vươn lên về việc hợp tác quốc tế nếu hiện tượng này được đương đầu một cách hiệu nghiệm. Những chính sách như thế phải được bắt đầu từ việc chặt chẽ hợp tác giữa các xứ sở gốc gác của người di dân với những xứ sở họ đến ở; nó cần phải được kèm theo bằng những tiêu chuẩn quốc tế thích đáng có thể điều hợp những hệ thống luật pháp khác nhau để bảo đảm những nhu cầu và những quyền lợi của cá nhân thành phần di dân cùng gia đình của họ, đồng thời cả những nhu cầu và quyền lợi của các quốc gia chủ nhà nữa. Không một quốc gia nào có thể cho rằng tự mình giải quyết được những vấn đề ngày nay. Tất cả chúng ta đều chứng kiến thấy được gánh nặng của khổ đau, của vấn đề chuyển dời và của những ước vọng được ấp ủ nơi đoàn lũ người di dân. Như mọi người đều biết, khó có thể giải quyết được hiện tượng này; thế nhưng có một điều chắc chắn đó là các nhân viên ngoại quốc, bất chấp bất cứ khó khăn nào liên quan tới vấn đề di dân, cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của xứ sở chủ nhà nhờ việc lao nhọc của họ, không kể những gì họ làm cho xứ sở quê hương của họ bằng việc gửi tiền về nước. Hiển nhiên là không được coi thành phần lao công này như là một thứ hàng hóa hay chỉ là một thứ lực lượng làm việc. Bởi thế, không được đối xử với họ như bất cứ yếu tố nào khác của việc sản xuất. Hết mọi người di dân là một con người, thành phần mà vì như thế, có những quyền lợi căn bản, bất khả tách biệt là những gì cần phải được mọi người tôn trọng trong mọi hoàn cảnh [142].
63. Không một quan tâm nào về các vấn đề liên quan tới việc phát triển mà lại không nhấn mạnh tới mối liên hệ trực tiếp giữa vấn đề nghèo khổ và vấn đề thất nghiệp. Ở nhiều trường hợp, vấn đề nghèo khổ xuất phát từ việc vi phạm đến phẩm giá của việc làm nhân bản, hoặc vì những cơ hội làm việc bị hạn chế (bởi vấn đề thất nghiệp hay kém việc làm), hay “vì coi thường việc làm cùng với các quyền lợi từ đó mà ra, nhất là quyền có được một số lương chính đáng và quyền được bảo đảm an ninh cho cá nhân của nhân viên cũng như của gia đình của họ” [143]. Đó là lý do, vào ngày 1/5/2000, nhân dịp Mừng Đại Năm Thánh của thành phần Lao Công, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phổ biến lời kêu gọi về “một liên minh toàn cầu thuận lợi cho ‘việc làm xứng đáng’” [144], ủng hộ sách lược của Tổ Chức Lao Công Quốc Tế. Như thế, ngài đã đẩy mạnh mục tiêu này, coi nó như là một ước vọng của các gia đình trong các xứ sở trên thế giới. Chữ “xứng đáng” liên quan tới việc làm ở đây nghĩa là gì? Nghĩa là việc làm thể hiện phẩm giá thiết yếu của hết mọi con người nam nữ theo bối cảnh xã hội riêng của họ: việc làm được tự do chọn lựa, liên kết một cách hiệu nghiệm thành phần làm việc, cả nam lẫn nữ, với việc phát triển của cộng đồng họ; việc làm giúp thành phần làm việc có thể được tôn trọng và thoát khỏi bất cứ hình thức kỳ thị nào; việc làm giúp gia đình họ có thể thỏa đáng các nhu cầu của họ và cung cấp học vấn cho con cái họ, mà không bắt trẻ em phải tham gia lao công; việc làm giúp các người làm việc có thể tự do tổ chức lại với nhau hầu phát biểu tiếng nói của họ; việc làm giành đủ chỗ cho việc tái khám phá ra những gốc gác của con người ở tầm mức cá nhân, gia đình và thiêng liêng; việc làm bảo đảm cho những ai hồi hưu một tiêu chuẩn sống xứng đáng.
64. Trong khi suy tư về đề tài việc làm cũng thích đáng để nhắc lại vấn đề quan trọng biết bao đó là những liên đoàn lao công – những tổ chức luôn được Giáo Hội khuyến khích và nâng đỡ – cần phải cởi mở trước những quan niệm đang hiện lên nơi thế giới việc làm. Bằng cách nhìn tới những quan tâm bao rộng hơn là loại lao động riêng biệt là những gì từ đó chúng được hình thành, các tổ chức liên hiệp được kêu gọi giải quyết một số những vấn đề mới nổi lên trong xã hội của chúng ta: tôi đang nghĩ đến, chẳng hạn, tính chất phức tạp của những vấn đề được các khoa học gia về xã hội diễn tả về một cuộc xung khắc giữa thành phần làm việc và thành phần tiêu thụ. Không nhất thiết phải tán thành luận đề là vấn đề tập trung vào vai trò của thành phần làm việc đã nhường chỗ cho vấn đề tập trung vào thành phần tiêu thụ, thì điều này vẫn xẩy ra để tạo nên cho những hiệp hội một điểm tựa mới trong việc thám hiểm một cách sáng tạo. Môi trường toàn cầu mà trong đó việc làm diễn tiến cũng đòi hỏi là các liên đoàn lao công quốc gia, thành phần có khuynh hướng giới hạn mình vào việc bênh vực những thứ thiện ích cho các phần tử trong danh sách của mình, cần phải hướng chú ý của mình tới những ai ở ngoài phần tử của mình nữa, đặc biệt là tới các công nhân ở các xứ sở đang phát triển đang bị vi phạm các quyền lợi xã hội. Việc bảo vệ cho các người làm việc ấy, một phần chiếm đạt được nhờ những khởi động nhắm tới các xứ sở gốc gác của họ, sẽ giúp cho các liên hiệp lao công có thể chứng tỏ những động lực chân thực về đạo lý và văn hóa trở thành khả dĩ giúp họ, ở một môi trường xã hội và lao công khác nhau, đóng một vai trò quyết liệt trong vấn đề phát triển. Giáo huấn truyền thống của Giáo Hội đã phân biệt rõ ràng giữa những vai trò và những phần hành tương ứng của các liên hiệp mậu dịch và chính trị. Sự phân biệt này cho phép các liên hiệp nhận thấy xã hội dân sự như là một môi trường thích đáng cho hoạt động cần thiết của họ trong việc bênh vực và cổ võ lao công, nhất là thay cho những người lao động bị khai thác và không có ai lên tiếng cho, thành phần mang thân phận vô phúc thường bị coi thường trước con mắt lơ là của xã hội.
65. Bởi thế, vấn đề tài chính – nhờ những cấu trúc được đổi mới và các phương pháp hoạt động đã được phác họa sau biến cố nó bị lạm dụng là những gì bắt nền kinh tế thực sự phải chịu tình trạng tàn phá như thế – giờ đây cần phải trở lại với vai trò làm một thứ dụng cụ nhắm vào việc kiến tạo mới cho sự thịnh vượng và phát triển. Vì là những dụng cụ, toàn thể nền kinh tế và tài chính, chứ không phải chỉ có một số lãnh vực nào, cần phải được sử dụng một cách đạo lý để tạo nên những điều kiện thích hợp cho việc phát triển của con người cũng như cho việc phát triển của các dân tộc. Thật sự là cần thiết, và ở trong một số trường hợp lại còn bắt buộc, phải tung ra những khởi động về tài chính nhắm đến chiều kích nhân đạo. Tuy nhiên, điều ấy cũng không được làm lu mờ đi sự kiện là toàn thể hệ thống tài chính phải nhắm đến chỗ bảo trì vấn đề phát triển thực sự. Trước hết, ý hướng làm tốt không được coi là không tương xứng với khả năng hiệu lực để sản xuất những sản vật. Các chuyên viên tài chính cần phải tái khám phá ra cái nền tảng chân thực về đạo lý nơi hoạt động của mình, để không lạm dụng những dụng cụ tinh xảo có thể phản lại với các ích lợi của thành phần giành dụm. Ý hướng đúng đắn, tính chất liêm khiết, và việc tìm kiếm những thành quả tích cực là những gì tương hợp với nhau và không bao giờ được tách khỏi nhau. Nếu tình yêu khôn ngoan thì nó có thể tìm thấy những đường lối hoạt động hợp với tính chất thiết thực dự phòng và chính đáng, như được sáng tỏ nơi cách thức đáng kể của nhiều kinh nghiệm về những tổ chức liên hiệp cho vay mượn.
Cả qui luật của lãnh vực tài chính trong việc bảo đảm những bên yếu kém hơn và làm suy giảm việc đầu tư tích trữ xấu xa, lẫn việc thử nghiệm các hình thức mới về tài chính, được phác họa để nâng đỡ các dự phóng phát triển, là những kinh nghiệm tích cực cần phải được khai phá và khuyến khích thêm, đề cao trách nhiệm của của thành phần đầu tư. Ngoài ra, kinh nghiệm về vấn đề tiểu tài trợ, một vấn đề được bắt nguồn từ ý nghĩ và hoạt động của thành phần nhân bản dân sự – tôi đang đặc biệt nghĩ đến cuộc phát xuất của việc cầm đồ – cần phải được củng cố và cải tiến. Đó là tất cả những gì cần thiết hơn vào những ngày này khi những khó khăn về tài chính có thể trở nên trầm trọng đối với nhiều thành phần yếu kém trong dân chúng, thành phần cần phải được bảo vệ khỏi nguy cơ nặng lãi cũng như khỏi cảm thấy thất vọng. Các phần tử yếu kém nhất trong xã hội cần phải được giúp đỡ để có thể tự vệ trước vấn đề nặng lãi, cũng như thành phần dân chúng nghèo khổ cần được giúp đỡ để có được lợi ích thực sự từ thứ vay nhỏ này, nhờ đó làm suy yếu đi việc khai thác khả dĩ xẩy ra trong hai lãnh vực này. Vì các quốc gia giầu thịnh cũng đang trải qua những hình thức nghèo khổ mới mà vấn đề tiểu tài trợ có thể cống hiến việc trợ giúp cụ thể bằng cách tung ra những khởi động mới và mở ra những lãnh vực mới cho lợi ích của những yếu tố yếu kém hơn trong xã hội, thậm chí ở vào lúc sa sút chung về kinh tế này.
66. Tính chất liên hệ toàn cầu đã dẫn đến chỗ xuất hiện một thứ quyền lực mới về chính trị, quyền lực của thành phần tiêu thụ cùng với các hiệp hội của họ. Đây là một hiện tượng cần phải được khai triển hơn nữa, vì nó chứa đựng những yếu tố tích cực cần được khích lệ cũng như những thái quá cần phải tránh lánh. Người ta cần nhận thức rằng việc mua bán bao giờ cũng là một hành động luân lý, chứ không chỉ nguyên kinh tế. Vì thế thành phần tiêu thụ có một trách nhiệm xã hội đặc biệt, một trách nhiệm đi song song với trách nhiệm xã hội của việc kinh doanh. Thành phần tiêu thụ cần phải được tiếp tục giáo dục [145] về vai trò thường nhật của họ, một vai trò có thể hành sử bằng sự tôn trọng các nguyên tắc luân lý mà không làm suy giảm cái hữu lý nội tại của kinh tế nơi tác động mua bán. Ở ngành kỹ nghệ bán lẻ, nhất là vào những lúc như hiện nay, khi mà khả năng mua bán đã trở nên suy yếu và dân chúng phải sống thanh đạm hơn, cần tìm tòi những đường lối khác: chẳng hạn, những hình thức mua bán hợp tác như việc hợp tác của tiêu thụ viên là những gì đã từng được thực hiện từ thế kỷ thứ 19, một phần là nhờ sáng kiến của người Công giáo. Lại nữa, cũng là việc ích lợi trong việc cổ võ những đường lối mới để quảng bá các thứ sản phẩm xuất phát từ các miền bị hất hủi trên thế giới, nhờ đó bảo đảm cho thành phần sản xuất của họ một cuộc tái tấu xứng đáng. Tuy nhiên, cần phải hội đủ một số điều kiện, đó là thị trường cần phải thực sự là liêm khiết; thành phần sản xuất, cũng như việc gia tăng các thứ dự trữ lợi lộc của họ, cũng cần phải huấn luyện cải tiến về khả năng và kỹ thuật chuyên nghiệp; và sau hết, việc mậu dịch kiểu này không được trở thành con tin cho các ý hệ phe đảng. Vai trò sâu sắc hơn đối với thành phần tiêu thụ, bao lâu chính họ không bị mạo dụng bởi các hiệp hội không thực sự làm đại diện cho họ, là một yếu tố đáng ước momg đối với việc xây dựng nền dân chủ về kinh tế.
67. Trước việc gia tăng không ngớt của tình trạng liên thuộc toàn cầu, hết sức cần đến, thậm chí ngay cả ở giữa cuộc suy thoái toàn cầu, một cuộc tái canh tân Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, cũng như các tổ chức về kinh tế cùng vấn đề tài chính quốc tế, nhờ đó quan niệm về gia đình của chư quốc có thể chiếm được ý nghĩa thực sự. Người ta cũng cảm thấy rất cần phải tìm được những đường lối mới mẻ để áp dụng nguyên tắc về trách nhiệm bảo vệ [146] và về việc cống hiến cho các quốc gia nghèo có được một tiếng nói hữu hiệu trong việc quyết định chung. Điều này dường như cần thiết để có thể tiến tới một lãnh vực chính trị, pháp lý và kinh tế có thể gia tăng và chỉ vẽ hướng đi đến việc hợp tác quốc tế cho việc phát triển của tất cả mọi dân tộc trong tình đoàn kết. Để điều hành nền kinh tế toàn cầu; để phục hồi các thứ kinh tế bị chới với trước cuộc khủng hoảng; để tránh bất cứ thứ suy thoái này của cuộc khủng hoảng hiện nay cùng với những chênh lệch to lớn hơn từ đó mà ra; để thực hiện việc giải giới toàn vẹn và đúng lúc, tình trạng an toàn về thực phẩm và hòa bình; để bảo đảm việc bảo vệ môi trường và chỉnh đốn việc di dân: đối với tất cả những việc làm này, hết sức cần phải có một thẩm quyền chính trị thế giới, như vị tiền nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Chân Phước Gioan XXIII đã đề cập tới ít năm trước đây. Một thẩm quyền như vậy cần phải được qui định bởi luật lệ, liên lỉ tuân giữ các nguyên tắc phụ trợ và đoàn kết, tìm cách thiết lập công ích [147], và thực hiện việc dấn thân để bảo đảm việc thực sự phát triển toàn vẹn con người là những gì được tác động bởi các thứ giá trị của bác ái trong chân lý. Chưa hết, một thẩm quyền như vậy cần phải được toàn cầu công nhận và được trao thực quyền để bảo đảm an ninh cho tất cả mọi người, chú ý tới công lý và tôn trọng các quyền lợi [148]. Dĩ nhiên là nó phải có thẩm quyền để bảo đảm việc tuân hợp với các quyết định của nó từ tất cả mọi phần tử, cũng như với các biện pháp điều hợp đã được các diễn đàn quốc tế khác nhau. Thiếu điều này, cho dù tình trạng tiến bộ lớn lao gặt hái được ở một số những lãnh vực khác nhau, luật lệ quốc tế cũng có cơ nguy bị lệ thuộc vào mức độ thăng bằng về quyền lực của những quốc gia hùng mạnh nhất. Việc phát triển toàn vẹn của chư dân và việc hợp tác quốc tế cần đến việc thiết lập ở một tầm mức rộng lớn hơn nữa việc hướng dẫn quốc tế, được đánh dấu bằng tính chất phụ trợ, đối với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa [149]. Cả hai điều này cũng đòi phải thiết lập một trật tự xã hội nhắm đến chỗ tuân hợp với trật tự về luân lý, với sự liên hệ giữa lãnh vực luân lý và xã hội, cũng như với mối liên hệ giữa các lãnh vực chính trị và kinh tế cùng dân sự, như được Hiến Chương Liên Hiệp Quốc vạch định.
Chương Sáu
Việc Phát Triển của Chư Dân và Vấn Đề Kỹ Thuật
68. Việc phát triển của các dân tộc là những gì sâu xa gắn liền với việc phát triển của những con người cá nhân. Tự bản tính con người là thành phần chủ động tham gia vào việc phát triển của mình. Việc phát triển được đề cập đến ở đây không phải chỉ là thành quả của những đường lối tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta có thể thực hiện những quyết định tự do và hữu trách. Nó cũng không phải chỉ do chúng ta bốc đồng lên mà có, vì tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta là một tặng ân chứ không phải là một cái gì đó tự xuất phát. Tự do của chúng ta được sâu xa hình thành bởi hữu thể của chúng ta cùng với sự hữu hạn của nó. Không ai có thể tùy nghi khuôn đúc lương tâm của mình, thế nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng “cái tôi” của mình trên căn bản một “con người” được ban cho chúng ta. Chẳng những các người khác ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta mà mỗi người chúng ta cũng ở ngoài tầm làm chủ của chính mình nữa. Việc phát triển của con người sẽ bị tổn hại nếu họ cho rằng họ tự mình phải làm nên những gì họ trở thành. Tương tự như thế, việc phát triển của các dân tộc trở thành thiên lệch nếu nhân loại nghĩ rằng mình có thể tự tái tạo nên mình bằng những “cái kỳ diệu” của kỹ thuật, như việc phát triển về kinh tế hiện lên như là một thứ giả tạo có tính cách hủy hoại nếu nó cậy dựa vào “những thứ kỳ lạ” của tiền tệ để bảo trì sự tăng trưởng gượng ép và duy hưởng thụ. Trước một thứ giả tưởng có tính cách đánh cắp này, chúng ta cần phải củng cố tình yêu thương của chúng ta cho một thứ tự do không phải chỉ là những gì tùy nghi mà là những gì được qui cho tính chất thực sự nhân bản nhờ nhận thức được sự thiện chất chứa nó. Để đạt được mục đích này, con người cần phải nhìn vào bản thân mình để nhận thấy những qui chuẩn căn bản của luật luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã in ấn nơi tâm can của chúng ta.
69. Cái thách đố của việc phát triển ngày nay liên hệ chặt chẽ với sự tiến bộ về kỹ thuật, với những ứng dụng cả thể của nó nơi ngành sinh vật học. Kỹ thuật – đáng được nhấn mạnh – là một thực tại sâu xa của con người, gắn liền với quyền tự động và tự do của con người. Qua kỹ thuật, chúng ta thể hiện và khẳng định quyền lãnh đạo của tinh thần trên vật chất. “Tinh thần của con người, ‘càng ngày càng thoát khỏi tình trạng nô lệ của mình nơi các tạo vật, có thể dễ dàng vươn tới việc tôn thờ và chiêm ngưỡng Đấng Hóa Công’” [150]. Kỹ thuật giúp chúng ta có thể thực thi quyền thống trị trên vật chất, giảm bớt những nguy cơ, đỡ vất vả khó nhọc, cải tiến những điều kiện sống của chúng ta. Nó chạm tới cốt lõi ơn gọi lao động của con người: nơi kỹ thuật, được thấy như là sản phẩm thiên tài của mình, con người nhận ra bản thân mình và khuôn đúc nhân tính của mình. Kỹ thuật là phần khách quan của hành động con người [151], một hành động có nguồn gốc và nguyên do nơi yếu tổ chủ quan đó là chính con người làm việc. Vì thế, kỹ thuật không bao giờ chỉ là kỹ thuật. Nó tỏ hiện con người cùng với các ước vọng của con người đối với việc phát triển, nó cho thấy cái căng thẳng nội tại thôi thúc họ từ từ thắng vượt những giới hạn của vật chất. Kỹ thuật, theo chiều hướng này, là một thứ đáp ứng mệnh lệnh của Thiên Chúa trong việc canh tác và gìn giữ đất đai (cf Gen 2:15) là những gì Ngài đã trao phó cho nhân loại, và nó cần phải giúp vào việc củng cố giao ước giữa nhân loại và môi trường, một giao ước cần phải phản ảnh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.
70. Việc phát triển về kỹ thuật có thể làm nẩy lên ý nghĩ kỹ thuật là những gì tự mãn khi chú trọng quá nhiều tới những vấn đề “cách nào” mà không chú trọng đủ tới các vấn đề “tại sao” nơi hoạt động của con người. Vì thế, kỹ thuật có thể trở thành vừa đáng yêu lại đáng ghét. Được tạo nên nhờ óc sáng tạo của con người như là một dụng cụ của quyền tự do con người, kỹ thuật có thể được hiểu như là một thứ biểu lộ cái quyền tự do tuyệt đối, thứ quyền tự do tìm cách gạt ra ngoài những giới hạn vốn có nơi các sự vật. Tiến trình của việc toàn cầu hóa có thể thay thế những ý hệ bằng kỹ thuật [152], khi để cho kỹ thuật trở thành một thứ quyền năng của ý hệ có thể giam giữ chúng ta trong một tiền thức ghì chúng ta lại không cho đối đầu với hữu thể và chân lý. Nếu xầy ra như thế, tất cả chúng ta đều hiểu biết, thẩm định và quyết định về những hoàn cảnh sống của chúng ta từ bên trong một viễn tượng về văn hóa nặng về kỹ thuật mà chúng ta thuộc về một cách đóng khung, không thể khám phá ra một thứ ý nghĩa không từ chúng ta mà có. Thứ vũ trụ quan “về kỹ thuật” xuất phát từ nhãn quan ấy giờ đây trở nên quá chủ yếu tới độ sự thật tiến đến chỗ được thấy như trùng hợp với cái khả thể. Thế nhưng, khi mà qui chuẩn duy nhất của chân lý là tính cách hiệu năng và thực dụng thì việc phát triển tự động bị chối bỏ. Việc phát triển thực sự chính yếu không phải ở chỗ “làm”. Cái then chốt cho việc phát triển là một trí khôn có thể nghĩ bằng những kiểu cách kỹ thuật và nắm bắt được tất cả ý nghĩa nhân bản của các hoạt động con người, trong phạm vi của thứ ý nghĩa toàn diện về hữu thể của cá nhân con người. Ngay cả khi chúng ta làm việc qua những thứ vệ tinh hay qua những viễn lực điện tử, thì các hoạt động của chúng ta bao giờ cũng vẫn là hành động con người, một thứ thể hiện quyền tự do hữu trách của chúng ta. Kỹ thuật là những gì có sức thu hút cao vì nó kéo chúng ta ra khỏi những giới hạn thể lý của chúng ta và nới rộng chân trời của chúng ta. Thế nhưng, tự do của con người đích thực chỉ khi nào nó đáp ứng với tính cách lạ lùng của kỹ thuật bằng những quyết định là hoa trái của trách nhiệm luân lý. Vì thế, rất cần phải được huấn luyện về việc sử dụng kỹ thuật một cách hữu trách theo đạo lý. Chúng ta cần phải lấy lại ý nghĩa đích thực của tự do vượt ra ngoài tính chất mê hoặc gây ra bởi kỹ thuật, thứ tự do không phải là một loại quay cuồng với việc hoàn toàn tự động mà là một thứ đáp ứng tiếng gọi hiện hữu, được bắt đầu từ nơi hữu thể riêng của chúng ta.
71. Sự lệch lạc khỏi các nguyên tắc nhân bản vững chắc này mà một quan niệm về kỹ thuật có thể sản xuất ra ngày nay được thấy ở một số những áp dụng về kỹ thuật trong các lãnh vực về phát triển và hòa bình. Việc phát triển của các dân tộc thường được coi như là một vấn đề về việc điều hành tiền tệ, việc tự do cạnh tranh thị trường, việc loại trừ đi các thứ thuế nhập khẩu, việc đầu tư vào vấn đề sản xuất, và những thứ canh tân về cơ cấu tổ chức – tắt một lời là một vấn đề thuần về kỹ thuật. Tất cả những điều ấy đều rất quan trọng, thế nhưng chúng ta phải hỏi rằng tại sao những chọn lựa về kỹ thuật đã diễn tiến như thế mà lại thu gặt được những thành quả pha trộn. Chúng ta cần nghĩ kỹ hơn về căn nguyên của nó. Vấn đề phát triển sẽ không bao giờ hoàn toàn được bảo đảm bằng các năng lực tự động hay vô ngã, dù những năng lực này xuất phát từ thị trường hay từ chính trị quốc tế. Không thể nào có vấn đề phát triển nếu thiếu những con người nam nữ chính trực ngay thẳng, thiếu những nhà tài chính và các chính trị gia có lương tâm hướng chiều theo những đòi hỏi của công ích. Cả khả năng chuyên nghiệp lẫn tính chất nhất trí về luân lý đều cần thiết. Khi kỹ thuật được dịp qua mặt thì hậu quả sẽ là tình trạng lẫn lộn giữa cùng đích và phương tiện, tới độ qui chuẩn duy nhất để tác hành nơi vấn đề thương mại được nghĩ là làm sao gia tăng tối đa lợi lộc, nơi chính trị là vấn đề củng cố quyền lực, và nơi khoa học là vấn đề thực hiện các việc tìm kiếm nghiên cứu. Bên dưới những thứ rối rít của các thứ tương liên về kinh tế, tài chính và chính trị, thường vẫn còn những thứ hiểu lầm, khó nhọc và bất công. Trào lưu về thứ kỹ thuật cách thức biết làm đang gia tăng, thế nhưng chính những ai sở hữu nó mới được lợi, trong khi đó, tình trạng của những dân tộc đang sống trong bóng tối của thứ kỹ thuật này vẫn không có gì đổi thay: vì họ ít có cơ hội giải phóng.
72. Thậm chí ngay cả hòa bình cũng có thể bị coi như là một sản phẩm về kỹ thuật, chỉ là thành quả của những thỏa thuận giữa các chính quyền hay của những khởi động nhắm tới việc bảo đảm cho vấn đề viện trợ kinh tế tốt đẹp. Thật sự thì việc xây dựng hòa bình đòi phải liên lỉ tương tác về những liên hệ ngoại giao, về những trao đổi kinh tế, kỹ thuật và văn hóa, về những thỏa ước cho những dự phóng chung, cũng như về những sách lược chung trong việc kiềm chế mối đe dọa của tình trạng xung đột về quân sự và trong việc loại trừ đi những nguyên nhân sâu xa của nạn khủng bố. Tuy nhiên, để cho những nỗ lực như thế có những tác dụng lâu dài, chúng cần phải dựa trên những giá trị được bắt nguồn từ sự thật về đời sống của con người. Tức là, tiếng nói của các dân tộc bị ảnh hưởng cần phải được lắng nghe và các tình trạng của họ cần phải được quan tâm tới, nếu những niềm mong đợi của họ được hiểu một cách đúng đắn. Người ta có thể nói cần phải nương theo với những nỗ lực không ai biết tới của rất nhiều cá nhân hết sức dấn thân để kéo các dân tộc lại với nhau cũng như để làm cho dễ dàng hơn việc phát triển có nền tảng yêu thương và tương kiến. Trong số thành phần dấn thân này có các phần tử của tín hữu Kitô giáo, thành phần đã tham gia vào công việc cao cả này để bảo tồn chiều kích trọn vẹn nhân bản của vấn đề phát triển và hòa bình.
73. Liên hệ tới vấn đề phát triển về kỹ thuật là sự hiện diện tràn lan mỗi ngày một gia tăng của các phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay hầu như không thể nào tưởng tượng nổi đời sống của gia đình nhân loại mà lại thiếu chúng. Dù lợi hơn hay hại hơn, chúng cũng trở thành một yếu tố của cuộc sống ngày nay đến nỗi thật là ngu xuẩn để chủ trương rằng chúng là những gì trung dung – và vì thế không bị chi phối bởi các quan tâm về luân lý liên quan tới dân chúng. Những cái nhìn nhấn mạnh tới bản chất hết sức kỹ thuật của truyền thông đại chúng như thế thường hiệu nghiệm phụ giúp cho các lợi lộc kinh tế muốn làm chủ thị trường, mà còn cho cả những nỗ lực áp đặt những kiểu mẫu văn hóa phục vụ cho những hoạt động ý hệ và chính trị. Nếu tầm quan trọng nồng cốt của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng đang tìm cánh thay đổi về thái độ đối với thực tại và con người, thì chúng ta cần phải cẩn thận suy nghĩ tới ảnh hưởng của chúng, nhất là liên quan tới chiều kích văn hóa đạo lý của việc toàn cầu hóa cũng như của việc phát triển chư dân trong tình đoàn kết. Việc phản ảnh những gì cần phải có một đường lối có tính cách đạo lý cho vấn đề toàn cầu hóa và phát triển mà cả ý nghĩa lẫn mục đích của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng cần phải được tìm kiếm trong một viễn tượng về nhân loại học. Điều này có nghĩa là chúng có thể có một tác dụng văn minh hóa chẳng những chỉ khi nào, nhờ việc phát triển về kỹ thuật, chúng gia tăng những cơ hội truyền đạt tín liệu, nhưng trên hết khi chúng hướng tới một nhãn quan về con người và công ích phản ảnh những giá trị phổ quát thực sự. Chỉ vì những việc truyền đạt về xã hội làm gia tăng các cơ hội của việc tương liên và truyền bá các tư tưởng mà lại không có vấn đề chúng cổ võ tự do hay quốc tế hóa vấn đề phát triển và nền dân chủ cho tất cả mọi người. Để đạt được các mục đích thuộc loại này, chúng cần nhắm tới việc cổ võ phẩm giá của con người và của các dân tộc, chúng cần phải được minh nhiên tác động bởi bác ái và phục vụ chân lý, sự thiện cũng như tình huynh dệ tự nhiên cũng như siêu nhiên. Thật vậy, tự do của con người là những gì tự bản chất gắn liền với những giá trị cao cả này. Phương tiện truyền thông đại chúng có thể thực hiện việc đóng góp quan trọng cho việc gia tăng mối hiệp thông của gia đình nhân loại cũng như nét đặc trưng của xã hội khi chúng được sử dụng để cổ võ việc tham dự toàn cầu vào việc tìm kiếm chung cho những gì là chính đáng.
74. Một trận chiến quyết liệt đặc biệt trong cuộc đối chọi về văn hóa ngày nay giữa vai trò chủ chốt của kỹ thuật và trách nhiệm luân lý của con người đó là lãnh vực đạo lý sinh học, một lãnh vực mà chính cơ hội của việc phát triển toàn vẹn con người đang gặp trục trặc trầm trọng. Ở lãnh vực rất tế nhị và nguy kịch này, vấn đề nồng cốt rõ ràng hiện lên cho thấy là phải chăng con người là sản phẩm bởi công khó của họ hay họ lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học nơi lãnh vực này và những cơ hội của việc phát minh kỹ thuật dường như rất thuận lợi để bắt phải chọn lựa giữa hai loại luận lý: một là lý lẽ hướng về siêu việt thể hai là lý lẽ khép kín ở nội tại. Chúng ta được trình bày với một thứ chọn lựa rõ ràng là chẳng này cũng không nọ. Tuy nhiên, cái lý lẽ của một thứ sử dụng kỹ thuật qui ngã cho thấy là những gì phi lý vì nó bao hàm một thứ dứt khoát loại trừ đi ý nghĩa và giá trị. Không phải là trùng hợp nơi việc khép mình trước siêu việt thể khiến con người không tránh khỏi phải đối diện với một vấn đề khó khăn, đó là, vấn đề làm thế nào lại xẩy ra chuyện hiện hữu xuất phát từ vô hữu, làm thế nào lý trí lại xuất phát từ ngẫu nhiên tình cờ chứ? [153] Đối diện với những vấn đề khốc liệt này, lý trí và đức tin có thể trợ giúp lẫn nhau. Chỉ khi nào cùng nhau chúng mới có thể cứu được con người. Được dẫn nhập bằng một thứ cậy dựa hoàn toàn vào kỹ thuật, lý tri phi đức tin bị chới với trong một ảo tưởng về quyền toàn năng của mình. Đức tin phi lý trí có cơ nguy bị tách ra khỏi cuộc sống thường nhật [154].
75. Đức Phaolô VI đã nhận thấy và kéo chú ý tới chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội này [155]. Theo bước đường của ngài, ngày nay chúng ta cần khẳng định rằng vấn đề xã hội này đã trở thành một vấn đề hoàn toàn về nhân loại học, ở chỗ là nó quan tâm chẳng những sự sống được thụ thai ra sao mà còn nó bị mạo dụng thế nào, khi kỹ thuật sinh học càng ngày càng đặt nó ở dưới quyền kiểm soát của con người. Việc thụ thai trong ống nghiệm, việc nghiên cứu phôi thai bào, tiềm năng chế tạo các thứ tạo sinh sao bản và lai giống con người: tất cả những điều này giờ đây đang vươn lên và đang được cổ võ nơi thứ văn hóa hết sức vỡ mộng ngày nay, thứ văn hóa tin rằng nó từng làm chủ hết mọi nhiệm mầu, vì nguồn gốc của sự sống hiện nay ở trong tay chúng ta. Ở đây chúng ta thấy cái bộc lộ tỏ tường nhất về tính chất chủ chốt của kỹ thuật. Trong thứ văn hóa này, lương tâm chỉ được mời gọi để ghi nhận những khả năng của kỹ thuật. Tuy nhiên, chúng ta không được coi thường đặt nhẹ những viễn tượng đáng ngại đang đe dọa tương lai của chúng ta, hay những dụng cụ mãnh liệt mới mẻ đang ở trong tay của “nền văn hóa sự chết”. Chúng ta trong tương lai rất có thể phải thêm vào nạn phá thai thê thảm và tràn lan hiện nay chương trình cải giống có phương pháp của việc sinh sản – mà thật sự nó đang hiện diện một cách rụt rè lén lút. Thêm vào đó, một tâm thức ủng hộ vấn đề triệt sinh an tử đang tìm cách xâm nhập như một thứ chủ trương tàn phá không kém của việc kiểm soát sự sống ở trong một số trường hợp dường như không đáng sống nữa. Nằm ở bên dưới những viễn cảnh này là các quan điểm về văn hóa chối bỏ phẩm giá của con người. Những việc thực hành này lại nuôi dưỡng một thứ kiến thức duy vật và máy móc về sự sống con người. Ai có thể đo lường được những tác dụng tiêu cực của loại tâm thức về phát triển này? Làm sao chúng ta lại ngỡ ngàng trước cái lãnh đạm dửng dưng tỏ ra đối với những tình trạng hạ giá con người, khi việc dửng dưng lạnh lùng này bao gồm thậm chí cả thái độ của chúng ta đối với những gì con người là hay không là? Kinh hoàng biết bao cho cái chuyên chế và quyết định chọn lựa về những gì ngày nay cổ võ như đáng tôn trọng? Những vấn đề tầm thường được coi là ghê tởm, thế mà những thứ bất công chưa từng có dường như được nhân nhượng một cách rộng rãi. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gõ cửa người giầu, thì thế giới thịnh vượng lại có nguy cơ không còn nghe thấy những tiếng gõ cửa ấy, vị một lương tâm không còn phân biệt được những gì là con người nữa. Thiên Chúa tỏ cho con người biết bản thân họ, lý trí và đức tin sát cánh hoạt động để tỏ cho chúng ta thấy những gì là thiện hảo, nếu chúng ta muốn thấy nó; lề luật tự nhiên, trong đó Lý Trí sáng tạo chiếu giãi, tỏ cho thấy cái cao cả của chúng ta, mà còn cả cái yếu hèn của chúng ta nữa, vì chúng ta không nhận ra tiếng gọi sống sự thật luân lý.
76. Một khía cạnh của tâm thức về kỹ thuật hiện đại đó là khuynh hướng coi những vấn đề và những cảm xúc của đời sống nội tâm từ quan điểm thuần tâm lý, thậm chí cho tới quan điểm suy yếu về thần kinh. Như thế thì nội tâm của con người bị mất đi hết ý nghĩa của nó và từ từ chúng ta không còn nhận thức được chiều sâu bản thể của linh hồn con người bị mất đi như được các thánh nhân cảm nghiệm. Vấn đề phát triển được liên kết chặt chẽ với việc chúng ta hiểu biết về linh hồn con người, vì chúng ta thường giảm thiểu bản thân thành tâm thần và lẫn lộn sinh lực của linh hồn với tình trạng lành mạnh về cảm xúc. Những thứ đơn giản hóa thái quá này xuất phát từ một tình trạng hoàn toàn không hiểu gì về đời sống tâm linh, và chúng làm lu mờ đi sự kiện là việc phát triển của các cá nhân con người và các dân tộc một phần lệ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề có tính chất thiêng liêng. Việc phát triển cần phải bao gồm chẳng những tình trạng tăng trưởng về vật chất mà còn về tinh thần nữa, vì con người là một “hiệp nhất của thân thể và linh hồn” [156], xuất phát từ tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa và để cho sự sống đời đời. Nhân loại phát triển khi họ tăng trưởng về tinh thần, khi linh hồn họ tiến đến chỗ biết mình cùng với các sự thật được Thiên Chúa vun trồng sâu xa bên trong, khi họ đối thoại với chính mình và với Đấng Hóa Công của họ. Khi ở xa cách Thiên Chúa, con người sống bất ổn và dễ trở nên bệnh hoạn. Bệnh tâm thần về xã hội và tâm lý cùng nhiều chứng loạn chức năng thần kinh đang gây khốn đốn cho các xã hội thịnh vượng được qui một phần cho các yếu tố tâm linh. Một xã hội giầu thịnh, phát triển cao về những thứ vật chất nhưng lại đè nặng trên linh hồn, tự nó không dẫn tới việc phát triển đích thực. Những hình thức nô lệ mới cho thuốc phiện và thiếu thốn niềm hy vọng nơi nhiều người có thể được hiểu chẳng những theo những khía cạnh về xã hội học và tâm lý học mà còn thiết yếu theo những khía cạnh về tâm linh nữa. Tình trạng trống rỗng khiến linh hồn cảm thấy mình bị bỏ rơi, bất chấp việc sẵn có vô khối những thứ trị liệu cho thân xác và tâm thần, dẫn đến tình trạng khổ đau. Không thể nào có vấn đề hoàn toàn phát triển và công ích phổ quát trừ phi tình trạng phúc hạnh về tâm linh và luân lý được chú trọng, toàn thể con người gồm thân xác và linh hồn họ được lưu tâm.
77. Cái thế thượng phong của kỹ thuật có khuynh hướng làm con người bị trở ngại trong việc nhìn thấy bất cứ những gì không thể giải thích được theo nguyên chất thể. Tuy nhiên, hết mọi người đều cảm nghiệm thấy nhiều chiều kích phi chất thể và linh thiêng trong đời sống. Biết không phải chỉ là một tác động về thể chất, vì đối tượng được biết đến bao giờ cũng che giấu một cái gì đó ở ngoài tầm vóc của kinh nghiệm. Tất cả kiến thức của chúng ta, thậm chí là thứ kiến thức đơn giản nhất, bao giờ cũng là một phép lạ nho nhỏ, vì nó không bao giờ hoàn toàn giải thích được nơi những dụng cụ về thể chất được chúng ta áp dụng vào nó. Ở nơi hết mọi sự thật có một cái gì đó còn hơn là những gì chúng ta trông đợi, trong yêu thương chúng ta lãnh nhận bao giờ cũng có một yếu tố làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Chúng ta không bao giờ thôi cảm thấy lạ lùng trước những điều ấy. Nơi tất cả mọi kiến thức cũng như nơi hết mọi tác động yêu thương, linh hồn con người đều cảm nghiệm thấy một cái gì đó “vượt trên và ở trên”, một cái thật là giống như một tặng ân chúng ta lãnh nhận, hay một cao điểm chúng ta được nâng lên. Việc phát triển của các cá nhân và của các dân tộc cũng thế được đặt ở một cao độ, nếu chúng ta coi chiều kích thiêng liêng là những gì cần phải hiện diện cho việc phát triển trở thành chân thực. Nó đòi phải có những cặp mắt mới và một con tim mới, có khả năng vượt lên trên một thứ nhãn quan duy vật về các biến cố của con người, có khả năng thoáng thấy nơi việc phát triển “cái ngoại biên” không thể cống hiến bởi kỹ thuật. Nhờ theo đuổi đường lối này mới có thể thực hiện việc phát triển toàn vẹn con người theo chiều hướng thúc đẩy của bác ái trong chân lý.
78. Không có Thiên Chúa, con người đâu mà đi, thậm chí hiểu mình là ai nữa. Trước những vấn đề lớn lao to tát đang bủa vây vấn đề phát triển của các dân tộc, một vấn đề hầu như làm cho chúng ta cảm thấy chán chường, chúng ta tìm thấy được niềm an ủi nơi những lời nói của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng dạy chúng ta rằng: “Không có Thày các con không làm gì nổi” (Jn 15:5) sau đó Người phấn khích chúng ta rằng: “Thày luôn ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28:20). Khi chúng ta thấy được vô vàn công việc cần phải thực hiện, chúng ta cảm thấy vững tin rằng Thiên Chúa là Đấng hiện diện với những ai qui tụ lại nhân danh Người để hoạt động cho công lý. Đức Phaolô VI đã nhắc nhở trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc rằng con người không thể chiếm đạt được tiến bộ nếu không được trợ giúp, vì tự mình con người không thể xây dựng một nền nhân bản chân thực. Chỉ khi nào chúng ta nhận thức được ơn gọi của mình, với tư cách là cá nhân và là một cộng đồng, thuộc về gia đình của Thiên Chúa như là thành phần con cái nam nữ của Ngài, chúng ta mới có thể lan truyền một nhãn quan mới và lấy được một nghị lực mới trong việc phục vụ cho một nền nhân bản toàn vẹn thực sự. Bởi thế, việc phục vụ cao cả nhất cho vấn đề phát triển đó là một nền nhân bản Kitô giáo [157], một nền nhân bản làm bừng lên bác ái và xuất phát từ sự thật, chấp nhận cả hai như tặng ân vững bền của Thiên Chúa. Việc cởi mở cho Thiên Chúa làm cho chúng ta hướng về anh chị em của chúng ta và hướng đến một kiến thức về sự sống như là một công việc hân hoan cần phải được hoàn thành trong tinh thần đoàn kết. Ngoài ra, việc phủ nhận Thiên Chúa theo ý hệ và một chủ nghĩa vô thần của sự dửng dưng, lãng quên Đấng Hóa Công và có cơ nguy cũng tiến đến chỗ lãng quên các thứ giá trị nhân bản, là những gì tạo nên một số những chướng ngại chính cho vấn đề phát triển ngày nay. Một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân bản. Chỉ có nền nhân bản nào hướng về Tuyệt Đối Thể mới có thể hướng dẫn chúng ta trong việc cổ võ và xây dựng những hình thức của đời sống xã hội và dân sự – các cơ cấu, tổ chức, văn hóa và đặc trưng – mà không làm cho chúng ta có cơ nguy bị rơi vào cạm bẫyc của những kiểu cách một thời. Việc nhận thức tình yêu bất tử của Thiên Chúa là những gì nâng đỡ chúng ta trong công việc khó nhọc và thôi thúc của chúng ta cho công lý cũng như cho việc phát triển của các dân tộc, giữa các thành đạt và thất bại, để không ngừng theo đuổi một thứ trật tự chính đáng nơi các sự vụ của con người. Tình yêu của Thiên Chúa kêu gọi chúng ta hãy vượt ra ngoài những gì là hạn hữu và phù du, nó cống hiến cho chúng ta lòng can đảm để tiếp tục tìm kiếm và hoạt động cho lợi ích của tất cả mọi người, thậm chí cho dù nó không thể chiếm đạt tức thời và cho dù những gì chúng ta có thể chiếm đạt, cùng với các thẩm quyền chính trị cùng những thẩm quyền nơi lãnh vực kinh tế, bao giờ cũng kém hơn là điều chúng ta mong muốn [158]. Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu và để chịu đựng cho lòng yêu chuộng công ích, vì Ngài là Tất Cả của chúng ta, là niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta.
79. Vấn đề phát triển cần đến các Kitô hữu biết giơ tay lên nguyện cầu cùng Thiên Chúa, cần đến các Kitô hữu được tác động bởi ý thức rằng tình yêu tràn đầy chân lý, caritas in veritate, nơi xuất phát ra việc phát triển chân thực, không phải do chúng ta tạo ra mà là được ban cho chúng ta. Vì lý do ấy, ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất và phức tạp nhất, ngoài việc nhận thức thấy những gì đang xẩy ra, trước hết mọi sự chúng ta cần phải hướng về tình yêu của Thiên Chúa. Việc phát triển cần chú trọng tới đời sống thiêng liêng, một quan tâm nghiêm cẩn cho các cảm nghiệm của lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, của mối thân tình thiêng liêng với Chúa Kitô, của niềm tin cậy vào sự quan phòng và tình thương của Thiên Chúa, của tình yêu thương và lòng thứ tha, của việc bỏ mình, việc chấp nhận người khác, của công lý và hòa bình. Tất cả những điều này đều là những gì thiết yếu nếu “những con tim chai đá” được biến thành “các con tim bằng thịt” (Ezek 36:26), cống hiến “thần linh” cho đời sống ở trên trần gian này, nhờ đó nhân loại trở nên xứng đáng hơn. Tất cả những điều này bởi con người, vì con người là chủ thể cho việc hiện hữu của mình; và đồng thời cũng bởi Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là khởi điểm và là tận điểm của tất cả những gì là thiện hảo, tất cả những gì dẫn đến ơn cứu độ: “thế giới hay sự sống hoặc sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều của anh em và anh em là của Chúa Kitô và Chúa Kitô là của Thiên Chúa” (1Cor 3:22-23). Kitô hữu mong sao cho toàn thể gia đình nhân loại kêu cầu Thiên Chúa như “Cha chúng con!” Hiệp nhất với Người Con duy nhất, chớ gì tất cả mọi dân nước đều biết nguyện cầu cùng Cha và xin Ngài, theo những lời được chính Chúa Giêsu dạy chúng ta, về ân huệ được tôn vinh Ngài bằng cách sống theo ý muốn của Ngài, lãnh nhận được bánh chúng ta cần hằng ngày, thông cảm và quảng đại với những ai nợ nần của chúng ta, không bị thử thách quá sức và được cứu thoát cho khỏi sự dữ (cf. Mt 6:9-13).
Khi kết thúc Năm Thánh Phaolô, tôi hân hoan bày tỏ niềm hy vọng này nơi những lời của Vị Tông Đồ, được trích từ Thư Rôma: “Hãy yêu chuộng những gì chân thực, ghét những gì xấu xa, giữ lấy những gì thiện hảo, yêu thương nhau bằng tình huynh đệ; ganh đua tôn kính nhau” (Rm 12:9-10). Xin Trinh Nữ Maria – Vị được Đức Phaolô VI công bố là Mater Ecclesiae – Mẹ của Giáo Hội và được Kitô hữu tôn kính như là Speculum lustitiae and Regina Pacis – (Gương Soi Công Lý và Nữ Vương Hòa Bình) bảo vệ chúng ta và xin cho chúng ta, nhờ lời chuyển cầu thiên cung của Người, sức mạnh, niềm hy vọng và niềm vui cần thiết để tiếp tục quảng đại hiến thân cho công việc mang lại “việc phát triển toàn thể con người và tất cả mọi người” [159].
Tại Rôma, Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 29/6, Lễ Trọng Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, năm 2009, năm thứ năm của giáo triều tôi.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánhhttp://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20090629_caritas-in-veritate_en.html
———————-
[1] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 22: AAS 59 (1967), 268; Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 69.
[2] Address for the Day of Development (23 August 1968): AAS 60 (1968), 626-627.
[3] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace: AAS 94 (2002), 132-140.
[4] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 26.
[5] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963): AAS 55 (1963), 268-270.
[6] Cf. no. 16: loc. cit., 265.
[7] Cf. ibid., 82: loc. cit., 297.
[8] Ibid., 42: loc. cit., 278.
[9] Ibid., 20: loc. cit., 267.
[10] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 36; Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4: AAS 63 (1971), 403-404; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 43: AAS 83 (1991), 847.
[11] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 13: loc. cit., 263-264.
[12] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 76.
[13] Cf. Benedict XVI, Address at the Inauguration of the Fifth General Conference of the Bishops of Latin America and the Caribbean (Aparecida, 13 May 2007).
[14] Cf. nos. 3-5: loc. cit., 258-260.
[15] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 6-7: AAS 80 (1988), 517-519.
[16] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 14: loc. cit., 264.
[17] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 18: AAS 98 (2006), 232.
[18] Ibid., 6: loc cit., 222.
[19] Cf. Benedict XVI, Christmas Address to the Roman Curia, 22 December 2005.
[20] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 3: loc. cit., 515.
[21] Cf. ibid., 1: loc. cit., 513-514.
[22] Cf. ibid., 3: loc. cit., 515.
[23] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 3: AAS 73 (1981), 583-584.
[24] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 3: loc. cit., 794-796.
[25] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 3: loc. cit., 258.
[26] Cf. ibid., 34: loc. cit., 274.
[27] Cf. nos. 8-9: AAS 60 (1968), 485-487; Benedict XVI, Address to the participants at the International Congress promoted by the Pontifical Lateran University on the fortieth anniversary of Paul VI’s Encyclical “Humanae Vitae”, 10 May 2008.
[28] Cf. Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 93: AAS 87 (1995), 507-508.
[29] Ibid., 101: loc. cit., 516-518.
[30] No. 29: AAS 68 (1976), 25.
[31] Ibid., 31: loc. cit., 26.
[32] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 41: loc. cit., 570-572.
[33] Cf. ibid.; Id., Encyclical Letter Centesimus Annus, 5, 54: loc. cit., 799, 859-860.
[34] No. 15: loc. cit., 265.
[35] Cf. ibid., 2: loc. cit., 258; Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891): Leonis XIII P.M. Acta, XI, Romae 1892, 97-144; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 8: loc. cit., 519-520; Id., Encyclical Letter Centesimus Annus, 5: loc. cit., 799.
[36] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 2, 13: loc. cit., 258, 263-264.
[37] Ibid., 42: loc. cit., 278.
[38] Ibid., 11: loc. cit., 262; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 25: loc. cit., 822-824.
[39] Encyclical Letter Populorum Progressio, 15: loc. cit., 265.
[40] Ibid., 3: loc. cit., 258.
[41] Ibid., 6: loc. cit., 260.
[42] Ibid., 14: loc. cit., 264.
[43] Ibid.; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 53-62: loc. cit., 859-867; Id., Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 13-14: AAS 71 (1979), 282-286.
[44] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 12: loc. cit., 262-263.
[45] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22.
[46] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 13: loc. cit., 263-264.
[47] Cf. Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[48] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 16: loc. cit., 265.
[49] Ibid.
[50] Benedict XVI, Address to young people at Barangaroo, Sydney, 17 July 2008.
[51] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 20: loc. cit., 267.
[52] Ibid., 66: loc. cit., 289-290.
[53] Ibid., 21: loc. cit., 267-268.
[54] Cf. nos. 3, 29, 32: loc. cit., 258, 272, 273.
[55] Cf. Encyclical Letter, Sollicitudo Rei Socialis, 28: loc. cit., 548-550.
[56] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 9: loc. cit., 261-262.
[57] Cf. Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 20: loc. cit., 536-537.
[58] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 22-29: loc. cit., 819-830.
[59] Cf. nos. 23, 33: loc. cit., 268-269, 273-274.
[60] Cf. loc. cit., 135.
[61] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 63.
[62] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 24: loc. cit., 821-822.
[63] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 33, 46, 51: AAS 85 (1993), 1160, 1169-1171, 1174-1175; Id., Address to the Assembly of the United Nations, 5 October 1995, 3.
[64] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 47: loc. cit., 280-281; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 42: loc. cit., 572-574.
[65] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Food Day: AAS 99 (2007), 933-935.
[66] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae, 18, 59, 63-64: loc. cit., 419-421, 467-468, 472-475.
[67] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 5.
[68] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace, 4-7, 12-15: AAS 94 (2002), 134-136, 138-140; Id., Message for the 2004 World Day of Peace, 8: AAS 96 (2004), 119; Id., Message for the 2005 World Day of Peace, 4: AAS 97 (2005), 177-178; Benedict XVI, Message for the 2006 World Day of Peace, 9-10: AAS 98 (2006), 60-61; Id., Message for the 2007 World Day of Peace, 5, 14: loc. cit., 778, 782-783.
[69] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace, 6: loc. cit., 135; Benedict XVI, Message for the 2006 World Day of Peace, 9-10: loc. cit., 60-61.
[70] Cf. Benedict XVI, Homily at Mass, Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006.
[71] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 1: loc. cit., 217-218.
[72] John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 28: loc. cit., 548-550.
[73] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 19: loc. cit., 266-267.
[74] Ibid., 39: loc. cit., 276-277.
[75] Ibid., 75: loc. cit., 293-294.
[76] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 28: loc. cit., 238-240.
[77] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 59: loc. cit., 864.
[78] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 40, 85: loc. cit., 277, 298-299.
[79] Ibid., 13: loc. cit., 263-264.
[80] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 85: AAS 91 (1999), 72-73.
[81] Cf. ibid., 83: loc. cit., 70-71.
[82] Benedict XVI, Address at the University of Regensburg, 12 September 2006.
[83] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 33: loc. cit., 273-274.
[84] Cf. John Paul II, Message for the 2000 World Day of Peace, 15: AAS 92 (2000), 366.
[85] Catechism of the Catholic Church, 407; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 25: loc. cit., 822-824.
[86] Cf. no. 17: AAS 99 (2007), 1000.
[87] Cf. ibid., 23: loc. cit., 1004-1005.
[88] Saint Augustine expounds this teaching in detail in his dialogue on free will (De libero arbitrio, II, 3, 8ff.). He indicates the existence within the human soul of an “internal sense”. This sense consists in an act that is fulfilled outside the normal functions of reason, an act that is not the result of reflection, but is almost instinctive, through which reason, realizing its transient and fallible nature, admits the existence of something eternal, higher than itself, something absolutely true and certain. The name that Saint Augustine gives to this interior truth is at times the name of God (Confessions X, 24, 35; XII, 25, 35; De libero arbitrio II, 3, 8), more often that of Christ (De magistro 11:38; Confessions VII, 18, 24; XI, 2, 4).
[89] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 3: loc. cit., 219.
[90] Cf. no. 49: loc. cit., 281.
[91] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 28: loc. cit., 827-828.
[92] Cf. no. 35: loc. cit., 836-838.
[93] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 38: loc. cit., 565-566.
[94] No. 44: loc. cit., 279.
[95] Cf. ibid., 24: loc. cit., 269.
[96] Cf. Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[97] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 24: loc. cit., 269.
[98] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 32: loc. cit., 832-833; Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 25: loc. cit., 269-270.
[99] John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 24: loc. cit., 637-638.
[100] Ibid., 15: loc. cit., 616-618.
[101] Encyclical Letter Populorum Progressio, 27: loc. cit., 271.
[102] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1987), 74: AAS 79 (1987), 587.
[103] Cf. John Paul II, Interview published in the Catholic daily newspaper La Croix, 20 August 1997.
[104] John Paul II, Address to the Pontifical Academy of Social Sciences, 27 April 2001.
[105] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 17: loc. cit., 265-266.
[106] Cf. John Paul II, Message for the 2003 World Day of Peace, 5: AAS 95 (2003), 343.
[107] Cf. ibid.
[108] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 13: loc. cit., 781-782.
[109] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 65: loc. cit., 289.
[110] Cf. ibid., 36-37: loc. cit., 275-276.
[111] Cf. ibid., 37: loc. cit., 275-276.
[112] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Apostolate of Lay People Apostolicam Actuositatem, 11.
[113] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 14: loc. cit., 264; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 32: loc. cit., 832-833.
[114] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 77: loc. cit., 295.
[115] John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 6: AAS 82 (1990), 150.
[116] Heraclitus of Ephesus (Ephesus, c. 535 B.C. – c. 475 B.C.), Fragment 22B124, in H. Diels and W. Kranz, Die Fragmente der Vorsokratiker, Weidmann, Berlin, 1952, 6(th) ed.
[117] Pontifical Council for Justice And Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 451-487.
[118] Cf. John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 10: loc. cit., 152-153.
[119] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 65: loc. cit., 289.
[120] Benedict XVI, Message for the 2008 World Day of Peace, 7: AAS 100 (2008), 41.
[121] Cf. Benedict XVI, Address to the General Assembly of the United Nations Organization, New York, 18 April 2008.
[122] Cf. John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 13: loc. cit., 154-155.
[123] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[124] Ibid., 38: loc. cit., 840-841; Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 8: loc. cit., 779.
[125] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 41: loc. cit., 843-845.
[126] Cf. ibid.
[127] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae, 20: loc. cit., 422-424.
[128] Encyclical Letter Populorum Progressio, 85: loc. cit., 298-299.
[129] Cf. John Paul II, Message for the 1998 World Day of Peace, 3: AAS 90 (1998), 150; Address to the Members of the Vatican Foundation “Centesimus Annus – Pro Pontifice”, 9 May 1998, 2; Address to the Civil Authorities and Diplomatic Corps of Austria, 20 June 1998, 8; Message to the Catholic University of the Sacred Heart, 5 May 2000, 6.
[130] According to Saint Thomas “ratio partis contrariatur rationi personae”, In III Sent., d. 5, q. 3, a. 2; also “Homo non ordinatur ad communitatem politicam secundum se totum et secundum omnia sua”, Summa Theologiae I-II, q. 21, a. 4, ad 3.
[131] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 1.
[132] Cf. John Paul II, Address to the Sixth Public Session of the Pontifical Academies of Theology and of Saint Thomas Aquinas, 8 November 2001, 3.
[133] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Declaration on the Unicity and Salvific Universality of Jesus Christ and the Church Dominus Iesus (6 August 2000), 22: AAS 92 (2000), 763-764; Id., Doctrinal Note on some questions regarding the participation of Catholics in political life (24 November 2002), 8: AAS 96 (2004), 369-370.
[134] Benedict XVI, Encyclical Letter Spe Salvi, 31: loc. cit., 1010; Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[135] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 5: loc. cit., 798-800; Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[136] No. 12.
[137] Cf. Pius XI, Encyclical Letter Quadragesimo Anno (15 May 1931): AAS 23 (1931), 203; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 48: loc. cit., 852-854; Catechism of the Catholic Church, 1883.
[138] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris, loc. cit., 274.
[139] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 10, 41: loc. cit., 262, 277-278.
[140] Cf. Benedict XVI, Address to Members of the International Theological Commission, 5 October 2007; Address to the Participants in the International Congress on Natural Moral Law, 12 February 2007.
[141] Cf. Benedict XVI, Address to the Bishops of Thailand on their “Ad Limina” Visit, 16 May 2008.
[142] Cf. Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, Instruction Erga Migrantes Caritas Christi (3 May 2004): AAS 96 (2004), 762-822.
[143] John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 8: loc. cit., 594-598.
[144] Jubilee of Workers, Greeting after Mass, 1 May 2000.
[145] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[146] Cf. Benedict XVI, Address to the Members of the General Assembly of the United Nations Organization, New York, 18 April 2008.
[147] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris, loc. cit., 293; Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 441.
[148] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World, Gaudium et Spes, 82.
[149] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 43: loc. cit., 574-575.
[150] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 41: loc. cit., 277-278; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 57.
[151] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 5: loc. cit., 586-589.
[152] Cf. Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens, 29: loc. cit., 420.
[153] Cf. Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006; Id., Homily at Mass, Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006.
[154] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on certain bioethical questions Dignitas Personae (8 September 2008): AAS 100 (2008), 858-887.
[155] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 3: loc. cit., 258.
[156] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 14.
[157] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 42: loc. cit., 278.
[158] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Spe Salvi, 35: loc. cit., 1013-1014.
[159] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 42: loc. cit., 278.
Nguồn: thoidiemmaria.net
Các Vị Giám Mục,
Linh Mục và Phó Tế,
Tu Sĩ Nam Nữ
Tín Hữu Giáo Dân
Và Tất Cả Thiện Chí Nhân
Về Việc Phát Triển Toàn Vẹn Con Người
Trong Bác Ái và Chân Lý
Dẫn Nhập
1. Yêu thương trong sự thật được Chúa Giêsu Kitô chứng thực bằng đời sống trần gian và nhất là bằng cuộc tử nạn và phục sinh của Người, là lực đẩy chính yếu cho việc đích thực phát triển của hết mọi người và toàn thể nhân loại. Yêu thương – caritas – là một quyền lực đặc biệt thúc đẩy con người đến chỗ muốn can đảm và quảng đại dấn thân vào lãnh vực công lý và hòa bình. Yêu thương là một quyền lực được bắt nguồn từ Thiên Chúa là Tình Yêu Hằng Hữu và là Chân Lý Tuyệt Đối. Mỗi người đều tìm thấy sự thiện của mình nơi việc gắn bó với dự án của Thiên Chúa đối với họ, để trọn vẹn hiện thực dự án ấy, ở chỗ, nơi dự án này, họ tìm thấy sự thật, và nhờ việc gắn bó với sự thật ấy họ được trở nên tự do (cf Jn 8:22). Bởi thế, việc bênh vực sự thật, việc khiêm tốn và xác tín bày tỏ sự thật và việc làm chứng cho sự thật bằng đời sống là những hình thức tất yếu và bất khả thiếu của yêu thương. Thật thế, yêu thương thì “hân hoan trong sự thật” (1Cor 13:6). Tất cả mọi người đều cảm thấy một động lực bên trong thúc đẩy yêu thương một cách chuyên chính: yêu thương và sự thật không bao giờ hoàn toàn loại bỏ nhau, vì chúng là ơn gọi được Thiên Chúa cấy trong tâm trí của hết mọi con người. Việc tìm kiếm yêu thương và chân lý được Chúa Giêsu Kitô thánh tẩy và giải thoát khỏi tình trạng bần cùng do nhân loại chúng ta mang đến cho nó, và Người mạc khải cho chúng ta thấy nơi tất cả tầm vóc của nó cái khởi động của yêu thương cùng với dự án cho một sự sống đích thực được Thiên Chúa sửa soạn cho chúng ta. Trong Chúa Kitô, yêu thương trong sự thật trở nên Dung Nhan Bản Vị của Người, một ơn gọi đối với chúng ta trong việc yêu thương anh chị em của chúng ta trong chân lý của dự án Người. Thật vậy, Người chính là Sự Thật (cf Jn 14:6).
2. Yêu thương là tâm điểm của giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Hết mọi thứ trách nhiệm và hết mọi cuộc dấn thân đều được sáng tỏ bởi giáo huấn xuất phát từ yêu thương là tổng hợp toàn thể Lề Luật như Chúa Giêsu dạy này (cf Mt 22:36-40). Yêu thương là những gì cống hiến bản chất thực sự cho mối liên hệ riêng tư với Thiên Chúa cũng như với tha nhân; nó là nguyên lý chẳng những của các mối tiểu liên hệ (với bạn bè, với các phần tử trong gia đình hay trong những nhóm nhỏ) mà còn của cả những mối đại liên hệ nữa (những liên hệ về xã hội, kinh tế và chính trị). Đối với Giáo Hội, được Phúc Âm hướng dẫn, thì yêu thương là tất cả mọi sự, vì, như Thánh Gioan dạy (cf 1Jn 4:8) và như tôi đã nhắc lại trong bức Thông Điệp thứ nhất “Thiên Chúa là Tình Yêu” của tôi, hết mọi sự đều bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa, hết mọi sự đều được tình yêu hình thành, hết mọi sự đều hướng về tình yêu. Tình yêu là tặng ân cao cả nhất của Thiên Chúa ban cho loài người. Tình yêu là lời hứa của Ngài và là niềm hy vọng của chúng ta.
Tôi biết được những cách thức yêu thương đã và đang tiếp tục bị hiểu sai và bị mất hết ý nghĩa, dẫn đến nguy cơ bị dẫn giải lệch lạc, tách khỏi cuộc sống đạo lý, và bị coi thường ở bất cứ trường hợp nào. Trong những lãnh vực về xã hội, pháp lý, văn hóa, chính trị và kinh tế – những môi trường dám bị ảnh hưởng nhất bởi mối nguy hiểm này – yêu thương dễ bị loại trừ đi như là những gì không thích đáng để dẫn giải và định hướng cho trách nhiệm về luân lý. Bởi thế, cần phải liên kết yêu thương với sự thật, chẳng những theo thứ tự của chúng, như được Thánh Phaolô vạch ra, về veritas in caritate – sự thật trong yêu thương (Eph 4:15), mà còn theo thứ tự ngược lại và bổ túc cho nhau của caritas in veritate – yêu thương trong sự thật. Chân lý là những gì cần phải tìm kiếm, gặp thấy và thể hiện trong “công cuộc” của yêu thương, thế nhưng, về phần mình, yêu thương cũng cần phải được hiểu biết, khẳng định và thực hành theo ánh sáng của chân lý. Nhờ đó chúng ta mới chẳng những phục vụ cho yêu thương được soi động bởi chân lý, mà còn làm cho chân lý trở thành khả tín, khi chứng thực cái quyền lực thu phục và xác thực của nó nơi hoàn cảnh cụ thể của đời sống xã hội. Ngày nay đây không phải là một vấn đề nhỏ, trong một môi trường về xã hội và văn hóa đang tương đối hóa chân lý, thường ít lắng nghe nó và cho thấy càng ngày càng ngần ngại trong việc công nhận việc hiện hữu của nó.
3. Nhờ mối liên hệ chặt chẽ này với sự thật, yêu thương mới được nhìn nhận như là một biểu lộ chân thực của nhân loại và như là một yếu tố có tấm vóc hết sức quan trọng trong những liên hệ của loài người, bao gồm cả những liên hệ có bản chất quần chúng. Yêu thương chỉ chiếu tỏa trong sự thật, chỉ trong sự thật yêu thương mới được sống một cách chân thực mà thôi. Sự thật là ánh sáng cống hiến ý nghĩa và giá trị cho yêu thương. Ánh sáng đó vừa là ánh sáng của lý trí vừa là ánh sáng của đức tin, nhờ đó trí khôn mới đạt được sự thật tự nhiên và siêu nhiên của yêu thương, ở chỗ, nó thấu triệt được ý nghĩa của nó là một tặng ân, một chấp nhận và một hiệp thông. Không có sự thật, yêu thương thoái hóa thành những gì có tính cách cảm tình. Tình yêu trở thành một cái vỏ rỗng không, một cái vỏ cần được làm đầy một cách độc đoán. Trong một nền văn hóa phi chân lý, thì đây là một mối nguy cơ sống còn thách đố yêu thương. Trở thành mối ngon cho những cảm xúc và ý nghĩ chủ quan tùy ý, chữ “yêu thương” đang bị lạm dụng và bóp méo cho tới độ nó trở thành những gì phản ngược. Sự thật là những gì giải thoát yêu thương khỏi những giam cầm của một thứ duy cảm xúc làm cho nó hụt hẫng đi những gì về liên hệ và xã hội, cũng như của một thứ duy tín làm cho nó mất đi bầu khí nhân bản và vũ trụ. Trong chân lý, yêu thương phản ảnh chiều kích tư riêng nhưng công khai của niềm tin tưởng vào Thiên Chúa của Thánh Kinh, Đấng vừa là Agápe vừa là Lógos: Đức Ái và Chân Lý, Yêu Thương và Ngôi Lời.4. Nhờ được đầy sự thật yêu thương mới có thể được hiểu một cách phong phú về những giá trị của nó, nó có thể được chia sẻ và truyền đạt. Thật thế, sự thật là lógos cái tạo nên diá-logos, và vì thế mới có vấn đề truyền thông và hiệp thông. Sự thật, nhờ giúp cho con người nam nữ có thể gạt ra ngoài những ý nghĩ và cảm tưởng chủ quan của mình, khiến họ vượt ra ngoài những giới hạn về văn hóa và lịch sử và cùng nhau thẩm định giá trị cùng bản chất của các sự vật. Sự thật hướng chúng ta về và liên kết lý trí của chúng ta trong lógos của tình yêu: đó là việc loan báo và chứng từ về yêu thương của Kitô giáo. Trong bối cảnh về xã hội và văn hóa hiện nay, một bối cánh có đầy những khuynh hướng muốn tương đối hóa sự thật, thì việc thực hành yêu thương trong sự thật là những gì giúp cho con người hiểu rằng việc gắn bó với những giá trị của Kitô giáo chẳng những hữu dụng mà còn thiết yếu cho việc xây dựng một xã hội tốt đẹp cũng như cho việc thực sự phát triển toàn vẹn con người. Một Kitô giáo của yêu thương phi sự thật sẽ trở thành một thứ giao hoán không nhiều thì ít với một loạt những cảm tình tốt lành, hữu dụng cho việc gắn bó về xã hội, nhưng chẳng thích đáng bao nhiêu. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ không còn chỗ đứng thực sự nào nữa trên thế giới này. Không có sự thật thì yêu thương bị giam hãm vào một lãnh vực hẹp hòi trống vắng của các mối liên hệ. Nó bị loại trừ khỏi những dự án và những tiến trình cổ võ việc phát triển con người ở tầm mức toàn cầu, trong cuộc trao đổi giữa kiến thức và hành động.
5. Caritas là tình yêu lãnh nhận và tặng ban. Nó là “ân sủng” (cháris). Nó bắt nguồn từ tình Cha yêu Con trong Thánh Thần. Tình yêu từ Con mà đến với chúng ta. Nó là tình yêu sáng tạo, nhờ đó chúng ta mới hiện hữu; nó là tình yêu cứu chuộc, nhờ đó chúng ta mới được tái tạo. Tình yêu được mạc khải và hiện thực nhờ Chúa Kitô (cf Jn 13:1) và “tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần” (Rm 5:5). Là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, con người nam nữ trở thành những chủ thể của yêu thương, họ được kêu gọi để biến mình thành những dụng cụ của ân sủng, trong việc tuôn đổ tình yêu của Thiên Chúa cũng như trong việc đan kết các mạng lưới của tình yêu thương.
Cái động tính này của tình yêu thương được lãnh nhận và tặng ban là những gì làm xuất phát giáo huấn của Giáo Hội về xã hội, đó là caritas in veritate in re sociali: việc loan truyền sự thật về tình yêu của Chúa Kitô trong xã hội. Giáo huấn này phục vụ cho tình yêu thương nhưng điểm tựa của nó là chân lý. Chân lý là những gì bảo trì và thể hiện quyền lực giải phóng của yêu thương trong các biến cố hằng đổi thay của lịch sử. Nó đồng thời cũng là chân lý của đức tin và của lý trí, cả ở những gì khác biệt cũng như đồng qui nơi hai lãnh vực tri thức này. Việc phát triển, tình trạng phúc lợi của xã hội, việc tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho những vấn đề kinh tế xã hội trầm trọng đang bủa vây nhân loại, tất cả đều cần đến sự thật này. Cái mà chúng thậm chí cần hơn nữa đó là sự thật ấy cần phải được mến chuộng và chứng tỏ. Không có sự thật, thiếu lòng tin tưởng và yêu mến đối với những gì là chân thực thì không có vấn đề lương tâm và trách nhiệm xã hội, và hoạt động xã hội cuối cùng đi đến chỗ phục vụ những lợi lộc riêng tư và lý lẽ của quyền lực, mà hậu quả là tình trạng phân mảnh xã hội, nhất là trong một xã hội toàn cầu hóa ở những lúc khốn khó như hiện nay.
6. “Caritas in veritate” là nguyên tắc được giáo huấn về xã hội của Giáo Hội căn cứ, một nguyên tắc mặc hình thức cụ thể theo những qui chuẩn chi phối hành động luân lý. Tôi muốn nói đặc biệt tới hai trong qui chuẩn này, hai qui chuẩn liên quan tới việc quyết tâm phát triển trong một xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa, đó là công lý và công ích.
Trước hết là công lý. Ubi societas, ibi ius: hết mọi xã hội đều phác họa ra hệ thống công lý của mình. Yêu thương là những gì vượt ra ngoài công lý, vì yêu là cho, là cống hiến những gì là “của tôi” cho người khác; thế nhưng yêu thương không bao giờ thiếu công lý là những gì nhắc nhở chúng ta trao tặng cho người khác những gì là “của họ”, những gì thuộc về họ bởi hữu thể của họ hay hành động của họ. Tôi không thể “trao tặng” những gì là của tôi cho người khác nếu trước tiên không trao ban cho họ những gì liên quan tới họ trong công lý. Nếu chúng ta yêu thương người khác bằng charity, thì trước hết chúng ta là kẻ chân chính đối với họ. Công lý không phải là những gì ngoại tại với charity, không phải là một đường lối thay thế hay song song với charity: công lý là những gì bất khả phân ly với charity [1], và là nội tại cho charity. Công lý là đường lối nống cốt của charity, hay, theo lời của Đức Phaolô VI, “mức độ tối thiểu” của nó [2], một yếu tố trọn vẹn của một tình yêu thương “bằng việc làm và trong chân lý” (1Jn 3:18) như Thánh Gioan kêu gọi chúng ta. Ngược lại, charity cần đến công lý, ở chỗ nhìn nhận và tôn trọng những quyền lợi hợp lý của cá nhân cũng như của các dân tộc. Nó cố gắng xây dựng thành đô trần thế theo luâä lệ và công lý. Lại nữa, charity vượt trên công lý và hoàn trọn công lý theo lý lẽ của ban phát và thứ tha [3]. Thành đô trần thế này được cổ võ không phải thuần túy nhờ những liên hệ về quyền lợi và nghĩa vụ, nhưng ở một tầm mức thậm chí cao cả hơn và cốt yếu hơn nữa, nhờ ở những mối liên hệ có tính cách nhưng không, nhân hậu và hiệp thông. Charity luôn là những gì biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa nơi cả những liên hệ nhân loại nữa, nó cống hiến những giá trị về thần học và cứu độ cho tất cả những việc dấn thân cho công lý trên thế giới này.7. Một quan tâm quan trọng khác đó là công ích. Yêu thương ai tức là mong muốn thiện ích cho người đó và thực hiện những gì hiệu năng để có được thiện ích này. Ngoài thiện ích của cá nhân còn có một thiện ích liên hệ tới cuộc sống trong xã hội, đó là công ích. Nó là thiện ích của “tất cả chúng ta” là thành phần bao gồm cá nhân, gia đình và những nhóm môi giới cùng nhau tạo thành xã hội [4]. Nó là một thiện ích được tìm kiếm không phải vì nó mà là vì con người thuộc về cộng đồng xã hội và là thành phần chỉ có thể thực sự và hiệu năng theo đuổi thiện ích của mình trong nó. Việc mong muốn công ích và nỗ lực tìm kiếm nó là những gì công lý và yêu thương đòi hỏi. Việc biện hộ cho công ích, một đàng, là những gì tỏ ra quan tâm về nó, đàng khác, muốn đích thân giúp cho tính chất phức tạp của những tổ chức có được cấu trúc cho đời sống của xã hội về phương diện pháp lý, dân sự, chính trị và văn hóa, biến nó thành pólis hay “thành đô”. Chúng ta càng nỗ lực để bảo toàn công ích tương hợp với các nhu cầu thực sự của tha nhân, chúng ta càng yêu thương họ một cách hiệu năng hơn. Hết mọi Kitô hữu được kêu gọi để thực hành tình yêu thương ấy, một cách tương xứng với ơn gọi của mình và theo tầm ảnh hưởng của mình trong pólis – thành đô. Đó là đường lối về cơ cấu tổ chức – chúng ta cũng có thể gọi nó là đường lối chính trị – của yêu thương, cũng tuyệt vời và hiệu nghiệm như loại yêu thương trực tiếp gặp gỡ tha nhân, ở bên ngoài việc dàn xếp về cơ cấu tổ chức của pólis – thành đô. Được tác động bởi yêu thương, việc dấn thân cho công ích có một giá trị cao hơn là giá trị có được bởi một vị thế thuần túy trần tục và chính trị. Như tất cả mọi cuộc dấn thân khác cho công lý, việc dấn thân cho công ích có một chỗ đứng trong chứng từ của đức ái thần linh mở đường vào cõi vĩnh hằng qua hoạt động trần thế. Hoạt động trần gian của con người, khi được yêu thương tác động và duy trì, là những gì góp phần xây dựng thành đô hoàn vũ của Thiên Chúa là mục đích cho lịch sử của gia đình nhân loại. Trong một xã hội đang càng ngày càng toàn cầu hóa thì công ích cùng với nỗ lực chiếm lấy nó không thể không có những chiều kích của toàn thể gia đình nhân loại, tức là, cộng đồng của chư dân và chư quốc [5], ở chỗ khuôn đúc thành đô trần thế này trong hiệp nhất và hòa bình, mang lại cho nó ở một mức độ nào đó một thứ ngưỡng vọng và một thứ tiền thân của thành đô bất khả phân chia của Thiên Chúa.
8. Vào năm 1967, khi ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc – Populorum Progressio, vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã làm sáng tỏ đề tài quan trọng về việc phát triển của các dân tộc bằng ánh quang rạng ngời của chân lý cùng với ánh sáng dịu dàng của đức ái Chúa Kitô. Ngài dạy rằng đời sống trong Chúa Kitô là yếu tố thứ nhất và chính yếu của việc phát triển [6] và ngài ủy thác cho chúng ta công việc hành trình theo con đường phát triển bằng tất cả tâm can và toàn thể trí khôn của chúng ta [7], tức là bằng lòng nhiệt thành của yêu thương và đức khôn ngoan của sự thật. Chính sự thật nguyên khôi này về tình yêu của Thiên Chúa, ân sủng được ban xuống trên chúng ta, là những gì hướng cuộc sống của chúng ta tới việc trao tặng và làm cho nó có thể hy vọng cho một thứ “phát triển toàn thể con người và tất cả mọi người” [8], hy vọng về việc tiến bộ “từ những điều kiện kém nhân bản đến những tình trạng nhân bản hơn” [9], một tình trạng đạt được bằng cách thắng vượt những khó khăn bất khả tránh xẩy ra trong cuộc hành trình.
Ở một khoảng cách trên 40 năm từ khi ban hành bức Thông Điệp ấy, tôi muốn tỏ lòng tôn kính và vinh danh vị đại Giáo Hoàng Phaolô VI, bằng việc ôn lại các giáo huấn của ngài về việc phát triển toàn vẹn con người và góp phần vào đường lối đã được các giáo huấn ấy vạch định, để áp dụng chúng vào thời điểm hiện nay. Việc tiếp tục áp dụng này vào các trường hợp hiện đại được bắt đầu với Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis được Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II muốn ghi dấu 20 năm ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển Của Các dân Tộc. Cho đến bấy giờ, chỉ có Thông Điệp Rerum Novarum – Tân Sự được tưởng niệm theo cách thức như thế thôi. Giờ đây lại 20 năm nữa qua đi, tôi muốn bày tỏ niềm xác tín của tôi là Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc xứng đáng được coi là Thông Điệp “Tân Sự của thời hiện đại”, chiếu tỏa ánh sáng cho cuộc hành trình hướng tới mối hiệp nhất của nhân loại.
9. Yêu thương trong sự thật – caritas in veritate – là một thách đố lớn lao cho Giáo Hội trong một thế giới đang được toàn cầu hóa một cách gia tăng và tràn lan. Cái nguy cơ cho thời đại của chúng ta đó là tình trạng liên thuộc theo sự kiện của dân chúng và chư quốc lại không ăn khớp với việc tương tác về đạo lý của lương tâm và trí khôn là những gì có thể làm phát sinh tình trạng thực sự phát triển của con người. Chỉ trong tình yêu thương được soi sáng bởi ánh sáng của lý trí và niềm tin, mới có thể thực hiện các mục đích phát triển có giá trị nhân bản và nhân bản hóa hơn. Việc chia sẻ những thiện ích và những nguồn lợi là những gì xuất phát việc phát triển thực sự, không được bảo đảm nguyên bởi sự tiến bộ về kỹ thuật và những liên hệ của tiện ích, mà là bởi khả năng của yêu thương thắng vượt sự dữ bằng sự thiện (cf Rm 12:21), mở ra con đường dẫn tới việc hỗ tương về lương tâm cùng với quyền tự do.
Giáo Hội không có những giải pháp kỹ thuật để cống hiến và không muốn “pha mình một cách nào đó vào lãnh vực chính trị của các Quốc Gia” [11]. Tuy nhiên, Giáo Hội có một sứ vụ về sự thật để hoàn thành, ở mọi lúc và mọi nơi, cho một xã hội hợp với con người, với phẩm giá của họ, với ơn gọi của họ. Không có sự thật, thật là dễ bị rơi vào một thứ duy nghiệm và nhãn quan ngờ vực về đời sống, không thể tiến tới mức hành động, bởi thiếu quan tâm tới việc nắm vững các thứ giá trị – đôi khi cả đến những ý nghĩa – là những gì cần được sử dụng để phán đoán và điều khiến nó. Việc trung thành với con người đòi phải trung thành với một chân lý tự nó là bảo đảm cho tự do (cf Jn 8:32) và triển vọng của việc phát triển toàn vẹn con người. Đó là lý do Giáo Hội tìm kiếm chân lý, không ngừng loan báo chân lý và nhìn nhận chân lý ở bất cứ nơi nào chân lý tỏ hiện. Sứ vụ về chân lý này là một sứ vụ không bao giờ Giáo Hội lại từ khước. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội là một chiều kích đặc biệt của việc loan báo này: nó là một thứ phục vụ cho chân lý gioải thoát chúng ta. Cởi mở trước chân lý, chân lý từ bất cứ ngành kiến thức nào, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội lãnh nhận nó, ráp vào mối hiệp nhất những thứ phân mảnh thường chất chứa nó, và dàn xếp nó trong những mẫu sống liên lỉ đổi thay trong xã hội của chư dân và chư quốc [12].
Chương Một
Sứ Điệp của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc
10. Việc đọc lại Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hơn 40 năm được ban hành, mời gọi chúng ta hãy trung thành với sứ điệp của nó về yêu thương và chân lý, một sứ điệp được nhận định trong bối cảnh toàn diện đối với huấn quyền đặc biệt của Đức Phaolô VI, và tổng quát hơn, trong truyền thống của giáo huấn về xã hội của Giáo Hội. Hơn nữa, cũng cần phải thực hiện một cuộc thẩm định về những khía cạnh khác liên quan tới vấn đề phát triển ngày nay, so với 40 năm trước. Bởi thế, quan điểm đúng đắn là quan điểm của Truyền Thống đức tin tông đồ [13], một gia sản vừa cũ vừa mới, bằng không Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc sẽ chỉ là một văn kiện thiếu nền tảng – và những vấn đề liên quan tới việc phát triển sẽ trở thành những dữ kiện thuần túy về xã hội.
11. Việc ban hành Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc xẩy ra ngay sau khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, và trong những đoạn mở đầu của mình, thông điệp này đã nói rõ mối liên hệ chặt chẽ của mình với Công Đồng ấy [14]. Hai mươi năm sau, trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis, Đức Gioan Phaolô II, về phần mình, đã nhấn mạnh đến mối liên hệ tốt đẹp của bức Thông Điệp trước đó này với Công Đồng, và nhất là với Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” [15]. Tôi cũng muốn nhắc lại nơi đây tầm quan trọng của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với bức Thông Điệp này của Đức Phaolô VI cũng như đối với toàn thể Huấn Quyền về xã hội sau đó của các vị Giáo Hoàng. Công Đồng này đã khảo sát một cách sâu xa hơn những gì bao giờ cũng thuộc về chân lý của đức tin, tức là Giáo Hội khi phục vụ Thiên Chúa là phục vụ thế giới trong yêu thương và chân lý. Đức Phaolô đã bắt đầu từ nhãn quan này để chuyển đạt hai sự thật quan trọng. Sự thật thứ nhất là toàn thể Giáo Hội, nơi tất cả hữu thể và hoạt động của mình – khi Giáo Hội công bố, khi Giáo Hội cử hành, khi Giáo Hội thực thi những công việc bác ái – đều dấn thân cổ võ việc phát triển toàn vẹn con người. Giáo Hội đóng một vai trò công khai bên trên và ở trên những hoạt động bác ái và giáo dục: ở chỗ, tất cả mọi năng lực Giáo Hội mang lại cho việc tiến bộ của nhân loại và tình huynh đệ đại đồng một khi Giáo Hội có thể thi hành trong một bầu khí tự do. Không phải là ít xẩy ra là quyền tự do này bị trở ngại bởi những ngăn cấm và bách hại, hay bị giới hạn khi việc hiện diện công khai của Giáo Hội bị biến thành những hoạt động bác ái của Giáo Hội mà thôi. Sự thật thứ hai đó là việc phát triển nhân loại thực sự liên quan tới toàn thể con người nơi từng chiều kích một [16].
Thiếu viễn ảnh về sự sống trường sinh, việc tiến bộ của con người trên thế giới này trở thành ngột ngạt. Bị đóng khung trong lịch sử, nó có nguy cơ trở thành một thứ thuần túy tích lũy giầu sang; nhân loại vì thế mất đi lòng can đảm phục vụ những thiện ích cao cả hơn, phục vụ những khởi động cao cả và vô vị lợi của đức bác ái phổ quát. Con người không phát triển bằng những quyền lực của mình, hay việc phát triển không thể nào chỉ đơn thuần truyền lại cho họ. Theo giòng lịch sử, người ta thường chủ trương rằng việc tạo nên các cơ cấu tổ chức là những gì đủ để bảo đảm cho việc đáp ứng quyền phát triển của con người. Tiếc thay, người ta đã đặt quá nhiều tin tưởng vào các cơ cấu tổ chức ấy, như thể chúng có thể tự động đạt được mục tiêu mơ ước ấy. Thực ra tự các cơ cấu tổ chức vẫn không đủ, vì việc phát triển toàn diện con người chính yếu là một ơn gọi, và vì thế nó bao gồm việc hết mọi người tự do lãnh nhận trách nhiệm trong tình đoàn kết. Ngoài ra, việc phát triển này cần phải có một nhãn quan siêu việt về con người, nó cần Thiên Chúa, ở chỗ, thiếu Ngài, việc phát triển một là bị chối từ hay là bị hoàn toàn lọt vào tay con người là thành phần có khuynh hướng nghĩ rằng họ có thể tự cứu độ nhưng cuối cùng là cổ võ một hình thức phát triển phi nhân bản hóa. Chỉ nhờ được gặp gỡ Thiên Chúa chúng ta mới có thể thấy nơi người khác một cái gì đó không phải chỉ là một tạo vật khác [17], có thể nhận ra hình ảnh thần linh nơi người khác, nhờ đó thực sự tiến đến chỗ khám phá ra họ và trưởng thành trong một tình yêu “trở nên mối quan tâm và chăm sóc ccho người khác” [18].
12. Mối liên hệ giữa Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và Công Đồng Chung Vaticanô II không có nghĩa là huấn quyền về xã hội của Đức Phaolô VI đánh dấu một thứ phân ly với giáo huấn của các vị Giáo Hoàng trước ngài, vì Công Đồng này là cơ hội giúp khai thác sâu xa hơn giáo huấn này một cách liên tục trong đời sống của Giáo Hội [19]. Theo chiều hướng ấy thì vấn đề sáng tỏ không ở tại những thứ phân chia phụ thuộc trừu tượng nào đó, những phân chia áp dụng các thứ loại vào giáo huấn xã hội của Giáo Hoàng không liên quan gì tới nó. Đây không phải là trường hợp của hai thứ phân loại học liên quan tới giáo huấn về xã hội khác nhau, một trước công đồng và một sau công đồng, trái lại, chỉ có một giáo huấn duy nhất, liên lỉ và đồng thời cũng luôn mới [20]. Đây không phải là vấn đề chú ý tới những tính chất đặc biệt của bức Thông Điệp này hay bức thông điệp kia, của giáo huấn Giáo Hoàng này hay giáo hoàng kia, nhưng lại hoàn toàn không lưu ý tới tính chất liên kết nơi toàn thể cấu trúc của giáo huấn [21].
Tính chất liên kết này không có nghĩa là một hệ thống khép kín, trái lại, nó có nghĩa là trung thành một cách linh động với thứ ánh sáng đã lãnh nhận. Giáo huần về xã hội của Giáo Hội bằng một thứ ánh sáng bất biến đang chiếu soi những vấn đề mới liên lỉ xuất hiện [22]. Điều này là những gì bảo toàn tính chất thường hằng và lịch sử của “gia sản” giáo huấn này [23], một gia sản, bởi những đặc tính đặc biệt của mình, là yếu tố và là thành phần nơi Truyền Thống hằng tồn tại của Giáo Hội [24]. Giáo huấn về xã hội được thiết lập trên nền tảng do các Tông Đồ truyền lại cho các Giáo Phụ của Giáo Hội, sau đó được các vị đại tiến sĩ của Hội Thánh lãnh nhận và dẫn giải sâu rộng hơn. Giáo huấn này tối hậu là những gì hướng tới Con Người Mới, tới “Adong mới là Đấng trở thành một thần linh ban sự sống” (1Cor 15:45), nguyên lý của đức ái “không bao giờ cùng” (1Cor 13:8). Nó được chứng thực bởi các thánh nhân cũng như bởi những ai hiến đời mình cho Chúa Kitô Chúa Cứu Thế của chúng ta trong lãnh vực công lý và hòa bình. Nó thể hiện công việc ngôn sứ của các vị Giáo Hoàng trong việc hướng dẫn tông đồ cho Giáo Hội Chúa Kitô cũng như trong việc nhận thức các đòi hỏi mới của việc truyền bá phúc âm hóa. Vì những lý do ấy, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, theo chiều hướng cao cả của Truyền Thống, ngày nay vẫn còn đang nói với chúng ta.
13. Ngoài mối liên hệ quan trọng của mình với toàn thể giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc cũng liên hệ chặt chẽ với toàn thể huấn quyền của Đức Phaolô VI, nhất là huấn quyền về xã hội của ngài. Huấn quyền của ngài thực sự là một giáo huấn về xã hội có tầm vóc thật quan trọng, ở chỗ, ngài nhấn mạnh tới tầm quan trọng bất khả thiếu của Phúc Âm trong việc xây dựng xã hội hợp với tự do và công lý, theo một viễn ảnh lý tưởng và lịch sử của một nền văn minh được yêu thương tác động. Đức Phaolô VI đã rõ ràng hiểu được rằng vấn đề xã hội đã trở thành toàn cầu [25], và ngài đã nắm bắt được mối tương liên giữa cái động lực hướng về việc hiệp nhất nhân loại với lý tưởng Kitô giáo về một gia đình chư dân duy nhất trong đoàn kết và huynh đệ. Theo quan niệm này về việc phát triển, được hiểu theo chiều hướng nhân loại và Kitô giáo, ngài đã nhận thấy tâm điểm sứ điệp xã hội của Giáo Hội, và ngài đã lấy đức ái Kitô giáo làm năng lực chính trong việc phục vụ phát triển. Được tác động bởi ước muốn làm cho tình yêu của Chúa Kitô hoàn toàn trở thành hữu hình với con người nam nữ hiện đại, Đức Phaolô VI đã bàn giải các vấn đề về đạo lý một cách mạnh mẽ, không đầu hàng trước những yếu hèn về văn hóa trong thời đại của ngài.
14. Trong Tông Thư Octogenima Adveniens năm 1971, Đức Phaolô VI đã chia sẻ về ý nghĩa của chính trị cũng như về mối nguy hiểm bởi những nhãn quan không tưởng và lý tưởng gây nguy hiểm cho những chiều kích đạo lý và nhân bản của nó. Đó là những vấn đề liên hệ chặt chẽ với việc phát triển. Tiếc thay, những ý hệ tiêu cựa này vẫn tiếp tục triển nở. Đức Phaolô VI đã cảnh giác ý hệ về kỹ thuật rất thịnh hành ngày nay [26], ngài hoàn toàn thấy được cái nguy hiểm to tát của việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho một mình kỹ thuật, vì như thế nó sẽ thiếu mất hướng đi. Kỹ thuật, tự mình, là một cái gì bất ổn. Một mặt, nếu một ngày nào đó xu hướng về việc trao phó tất cả tiến trình phát triển cho kỹ thuật, mặt khác chúng ta lại đang chứng kiến thấy một tình trạng đột phát của các thứ ý hệ chối bỏ in toto – hoàn toàn chính giá trị của phát triển, thấy phát triển như là những gì hoàn toàn phản nhân bản và chỉ là một nguồn gây ra tình trạng thoái hóa. Điều này dẫn tới chỗ phủ nhận, chẳng những đường lối méo mó và bất chính đôi khi tiến bộ được hướng dẫn, mà còn cả chính những khám phá khoa học, những khám phá, nếu sử dụng đàng hoàng, cũng có thể trở thành cơ hội tăng trưởng của tất cả mọi người. Ý nghĩ về một thế giới không phát triển cho thấy thiếu niềm tin tưởng nơi con người cũng như nơi Thiên Chúa. Bởi thế, nó là một sai lầm trầm trọng trong việc coi thường khả năng của con người làm chủ những lệch lạc của phát triển hay coi thường sự kiện là con người tự bản chất hướng về “cái là hơn nữa”. Việc lý tưởng hóa tiến bộ về kỹ thuật, hay chiêm ngưỡng cái không tưởng của một thứ trở về với tình trạng tự nhiên nguyên thủy của con người, hay hai cách thức đối nghịch nhau của vấn đề tách vấn đề tiến bộ khỏi giá trị luân lý của nó và bởi đó khỏi cả trách nhiệm của chúng ta.15. Có hai văn kiện của Đức Phaolô VI không trực tiếp liên quan tới giáo huấn về xã hội, đó là Thông Điệp Sự Sống Con Người – Humanae Vitae (25/7/1968) và Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm – Evangelii Nuntiandi (8/12/1975), có một tầm vóc rất quan trọng trong việc phác tả trọn vẹn ý nghĩa nhân bản của việc phát triển được Giáo Hội chủ trương. Bởi thế, cần phải lưu ý tới hai bản văn này theo chiều hướng của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các dân Tộc.
Thông Điệp Sự Sống Con Người nhấn mạnh đến ý nghĩa của tính dục về cả tính chất duy nhất và truyền sinh của nó, bởi thế, nó đặt vào ngay nền tảng của xã hội đôi phối ngẫu là con người nam nữ chấp nhận nhau một cách khác biệt và tương khuyết: một đôi phối ngẫu, do đó, hướng về sự sống [27]. Đây không phải là vấn đề thuần luân lý cá nhân: Thông Điệp Sự Sống Con Người cho thấy những liên hệ chặt chẽ giữa đạo lý sự sống với đạo lý xã hội, mở ra một lãnh vực mới trong giáo huấn của huấn quyền là những gì dần dần đã được bày tỏ ở hàng loạt những văn kiện, mới nhất là Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống – Evangelium Vitae [28] của Đức Gioan Phaolô II. Giáo Hội mãnh liệt chủ trương nắm giữ mối liên hệ giữa đạo lý về sự sống và đạo lý về xã hội, hoàn toàn nhận thức rằng “một xã hội thiếu những nền tảng vững chắc, khi mà, một mặt nó xác nhận những giá trị như phẩm giá của con người, công lý và hòa bình, mặt khác, lại hết sức tác hành phản lại bằng việc cho phép hay dung túng một số đường lối hạ giá và phạm tới sự sống, nhất là khi nó yếu kém hay bị cho ra rìa” [29].
Tông Huấn Loan Truyền Phúc Âm, về phần mình, rất gắn liền với việc phát triển, ở chỗ, theo Đức Phaolô VI nói, “việc truyền bá phúc âm hóa sẽ không hoàn trọn nếu nó không lưu ý tới sự tương tác giữa Phúc Âm với đời sống cụ thể của con người, cả lãnh vực tư riêng lẫn xã hội” [30]. “Giữa việc truyền bá phúc âm hóa và việc tiến bộ nhân bản – phát triển và tự do – thật sự là có một mối liên hệ sâu xa” [31]: trên căn bản của cái minh thức này, Đức Phaolô VI tỏ tường trình bày cho thấy mối liên hệ giữa việc loan báo Chúa Kitô và việc tiến bộ của cá nhân trong xã hội. Chứng từ cho đức ái của Chúa Kitô, qua các hoạt động về công lý, hòa bình và phát triển, thuộc về và là phân tố của việc truyền bá phúc âm hóa, vì Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương chúng ta, quan tâm tới toàn thể con người. Những giáo huấn quan trọng này làm nên nền tảng cho khía cạnh truyền giáo [32] nơi giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, một giáo huấn là yếu tố thiết yếu của việc truyền bá phúc âm hóa [33]. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội loan truyền và làm chứng cho đức tin. Nó là một dụng cụ và là một cơ cấu bất khả thiếu cho viện đào luyện đức tin.
16. Trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, Đức Phaolô VI dạy rằng tiến bộ, theo nguồn gốc và yếu tính của nó, trước hết và trên hết, là một ơn gọi: “theo ý định của Thiên Chúa, hết mọi người được kêu gọi phát triển và hoàn trọn bản thân mình, vì hết mọi đời sống là một ơn gọi” [34]. Đó là những gì cống hiến tính cách hợp lý cho việc Giáo Hội tham gia vào tất cả vấn đề phát triển. Nếu phát triển chỉ được quan tâm về các khía cạnh về kỹ thuật của đời sống con người, chứ không phải ở ý nghĩa của cuộc con người hành trình qua giòng lịch sử cùng với đồng loại của mình, hay không nhận ra mục tiêu của cuộc hành trình ấy, thì Giáo Hội sẽ không có quyền nói về nó. Đức Phaolô VI, như Đức Lêô XIII trước ngài trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum [35], đã biết rằng ngài thi hành một nhiệm vụ thích đáng với vai trò chiếu giãi ánh sáng Phúc Âm về các vấn đề xã hội thuộc thời đại của ngài [36].
Khi coi phát triển là một ơn gọi tức nhìn nhận, một mặt, phát triển xuất phát từ một ơn gọi siêu việt, mặt khác, tự mình nó không thể nào có được ý nghĩa tối hậu của nó. Không phải là vô tình mà chữ “ơn gọi” cũng được xuất hiện ở mộït đoạn khác của Thông Điệp này, đó là đoạn: “Không có nhân bản thực sự nếu không hướng tới Đấng Tuyệt Đối và ý thức về một ơn gọi mang lại cho đời sống con người ý nghĩa đích thực của nó” [37]. Nhãn quan về việc phát triển này là tâm điểm của Thông Điệp về Việc Phát Triển của Các Dân Tộc và nó chi phối tất cả những suy tư của Đức Phaolô VI về tự do, về sự thật và về bác ái trong vấn đề phát triển. Nó cũng là lý do chính cho thấy tại sao bức Thông Điệp này vẫn còn hợp thời ở thời đại của chúng ta đây.
17. Ơn gọi là một mời gọi cần được tự do và sáng suốt đáp ứng. Việc phát triển toàn diện con người bao hàm quyền tự do hữu trách của cá nhân cũng như của các dân tộc: không có một cấu trúc nào có thể bảo đảm việc phát triển vượt lên trên và ở trên trách nhiệm của con người. “Những kiểu chủ trương cứu thế hứa hẹn nhưng tạo nên những ảo ảnh” [38] bao giờ cũng xuất hiện ở chỗ chối bỏ chiều kích siêu việt của việc phát triển, cho rằng việc phát triển hoàn toàn nằm trong tay của chúng. Thứ bảo đảm sai lầm này trở thành một thứ yếu hèn, vì nó liên quan tới việc biến con người thành những gì lụy thuộc, thành phương tiện thuần túy cho việc phát triển, trong khi đó lòng khiêm nhượng của ai chấp nhận ơn gọi lại giúp họ thực sự tự lập, vì nó làm cho họ được tự do. Đức Phaolô VI đã dám chắc là các trở ngại và những hình thức điều kiện hóa là những gì kềm giữ vấn đề phát triển, thế nhưng ngài cũng tin tưởng rằng “mỗi một người, cho dù những ảnh hưởng ấy có tác dụng nơi họ ra sao, vẫn là tác nhân chính trong việc thành bại của họ” [39]. Cái tự do này liên quan tới một kiểu mẫu phát triển chúng ta đang bàn đến, thế nhưng nó cũng ảnh hưởng đến các tình trạng của vấn đề chậm phát triển đang xẩy ra không do tình cờ hay nhu cầu lịch sử, mà là do trách nhiệm của con người. Đó là lý do tại sao “các dân tộc đang đói khổ tham thiết kêu gọi các dân tộc được phúc sung túc” [40]. Điều này nữa cũng là một ơn gọi, một lời mời gọi được những chủ thể tự do ngỏ cùng các chủ thể tự do khác liên quan tới vấn đề đảm nhận trách nhiệm chung. Đức Phaolô VI đã có một cảm quan sắc bén về tầm quan trọng của những cấu trúc và tổ chức kinh tế, thế nhưng ngài cũng có cùng một cảm quan rõ ràng về bản chất của chúng như là những dụng cụ của tự do con người. Chỉ khi nào có tự do phát triển mới có tính cách nhân bản toàn vẹn; chỉ khi nào có một bầu khí của tự do sáng suốt phát triển mới gia tăng một cách thỏa đáng.
18. Ngoài việc đòi hỏi quyền tự do, việc phát triển toàn vẹn con người như là một ơn gọi cũng đòi phải tôn trọng sự thật nữa. Ơn gọi tiến bộ thúc đẩy chúng ta “làm hơn, biết hơn và có hơn để là hơn” [41]. Thế nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là: cái “là hơn” nghĩa là gì? Đức Phaolô VI đã trả lời câu hỏi này bằng việc nói đến phẩm chất thiết yếu của việc phát triển “chân thực”, ở chỗ nó cần phải “toàn vẹn, tức là nó phải cổ võ sự thiện của hết mọi người và của con người trọn vẹn” [42]. Giữa những quan niệm về nhân loại học đối chọi nhau đã xẩy ra trong xã hội ngày nay, thậm chí còn hơn cả thời của Đức Phaolô VI, quan niệm của Kitô giáo có một đặc tính đặc biệt trong việc chủ trương và biện hộ cho giá trị nhưng không của con người cũng như ý nghĩa cho vấn đề phát triển của họ. Ơn gọi Kitô giáo về vấn đề phát triển đó là giúp vào việc cổ võ tình trạng tiến bộ của tất cả mọi người và con người trọn vẹn. Như Đức Phaolô VI đã viết: “Những gì chúng ta cho rằng quan trọng đó là con người, từng người và từng nhóm người, và thậm chí chúng ta bao gồm toàn thể nhân loại nữa” [43]. Trong việc cổ võ phát triển, đức tin Kitô giáo không cậy dựa vào đặc quyền hay những thế lực, thậm chí cũng không cậy dựa vào những công nghiệp của thành phần Kitô hữu (cho dù những thứ công nghiệp này đã hiện hữu và tiếp tục hiện hữu theo những hạn hữu tự nhiên của chúng) [44], thế nhưng vào một mình Chúa Kitô là Đấng hết mọi ơn gọi chân thực đối với việc phát triển toàn vẹn con người cần phải hướng về. Phúc Âm là nền tảng cho việc phát triển, vì trong Phúc Âm, Chúa Kitô, “trong chính việc mạc khải về mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Cha, hoàn toàn tỏ cho nhân loại biết về họ” [45]. Được truyền dạy bởi Chúa của mình, Giáo Hội xem xét các dấu chỉ thời đại và giải thích chúng, cống hiến cho thế giới “những gì Giáo Hội có như là thuộc tình đặc biệt của mình, đó là một thứ nhãn quan toàn cầu về con người và về nhân loại” [46]. Chính vì Thiên Chúa âm vang tiếng “được” với con người [47] mà con người không thể không cởi mở trước ơn gọi thần linh trong việc theo đuổi việc phát triển của mình. Sự thật về sự phát triển bao gồm tính chất toàn vẹn của nó, ở chỗ, nếu nó không bao gồm trọn vẹn con người và hết mọi người, nó không phải là việc phát triển thực sự. Đó là sứ điệp chính yếu của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, hiệu lực cho ngày nay và mọi thời đại. Việc phát triển toàn vẹn con người về phương diện tự nhiên, như một đáp ứng ơn gọi từ Thiên Chúa Hóa Công [48], đòi hỏi sự viên trọn bản thân “theo chiều hướng nhân bản siêu việt cống hiến cho con người tầm mức trọn hảo khả hữu nhất của họ: đó là mục tiêu cao cả nhất của việc phát triển bản thân con người” [49]. Thế nên, ơn gọi của Kitô giáo đối với việc phát triển này áp dụng cho cả lãnh vực tự nhiên lẫn lãnh vực siêu nhiên; và đó là lý do tại sao “một khi Thiên Chúa bị khuất lấp đi thì khả năng của chúng ta trong việc nhận thức về trật tự, mục đích và ‘sự thiện’ tự nhiên bị suy yếu tàn tạ” [50].
19. Sau hết, nhãn quan về việc phát triển như là một ơn gọi bao gồm cả tâm điểm của yêu thương trong việc phát triển này. Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã vạch ra rằng các nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển không phải chính yếu ở tại lãnh vực vật chất. Ngài đã mời gọi chúng ta tìm kiếm những nguyên nhân này ở những chiều kích khác của con người: trước hết, ở ý muốn là những gì thường lơ là các nhiệm vụ của tình đoàn kết; tiếp theo là trong ý nghĩ là những gì không luôn luôn cống hiến hướng đi đúng đắn cho ý muốn. Bởi thế, trong việc theo đuổi việc phát triển, cần phải có “những ý nghĩ sâu xa và suy tư của một con người khôn ngoan trong việc tìm kiếm một chiều hướng nhân bản mới có thể giúp con người tân tiến tìm gặp bản thân mình một lần nũa” [51]. Thế nhưng, đó vẫn chưa phải là tất cả. Tình trạng chậm phát triển thậm chí còn một nguyên nhân quan trọng hơn là thiếu hụt những ý nghĩ sâu xa, đó là “sự thiếu tình huynh đệ giữa các cá nhân và các dân tộc” [52]. Có thể nào chiếm được tình huynh đệ này bằng nguyên nỗ lực của con người hay chăng? Trong khi xã hội càng ngày càng trở nên toàn cầu hóa hơn bao giờ hết, nó làm cho chúng ta thành cận nhân nhưng không làm cho chúng ta thành huynh đệ. Lý trí, tự mình, có thể hiểu được sự bình đẳng giữa con người và cống hiến sự ổn định cho việc chung sống dân sự của họ, thế nhưng nó không thể thiết lập tình huynh đệ. Điều này bắt nguồn từ một ơn gọi siêu việt từ Thiên Chúa là Cha, Đấng đã yêu thương chúng ta trước, dạy chúng ta qua Người Con tình yêu thương huynh đệ là gì. Đức Phaolô VI, khi trình bày cho thấy những mức độ khác nhau trong tiến trình phát triển của con người, sau khi đã đề cập tới đức tin, đã đặt làm tột đỉnh “mối hiệp nhất trong đức ái của Chúa Kitô là Đấng kêu gọi tất cả chúng ta hãy chia sẻ như là những người con trong sự sống của Vị Thiên Chúa hằng sống là Cha của tất cả mọi người” [53].
20. Những quan điểm này, những quan điểm được Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc mở ra, vẫn là những gì nồng cốt cho việc cống hiến bầu khí và hướng đi cho việc dấn thân phát triển chư dân của chúng ta. Ngoài ra, Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhu cầu khẩn trương cho vấn đề canh tân cải cách [54], và đương đầu với những vấn đề trầm trọng của tình trạng bất công nơi việc phát triển của chư dân, bức thông điệp này kêu gọi đừng trì hoãn thực hiện hành động can đảm. Nhu cầu khẩn trương này cũng là thành quả của yêu thương trong chân lý. Chính tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta: “caritas Christi urget nos” (2Cor 5:14). Nhu cầu khẩn trương này được in ấn không phải chỉ ở nơi các sự vật, nhu cầu khẩn trương ấy không được xuất phát nguyên từ tình trạng nối tiếp nhanh chóng xẩy ra của các biến cố và những vấn đề, mà còn từ chính vấn đề của nhu cầu khẩn trương này là việc thiết lập tình huynh đệ chân thực đang gặp nguy hiểm.
Tầm quan trọng của mục tiêu này đòi chúng ta cởi mở để hiểu biết nó một cách sâu xa và để vận động chính mình ơ ûtầm mức của “cõi lòng”, nhờ đó bảo đảm rằng những tiến trình về kinh tế và xã hội hiện đại xoay chung quanh những thành quả hoàn toàn về nhân bản.
Chương Hai
Việc Phát Triển của Con Người trong Thời Đại của Chúng Ta
21. Đức Phaolô VI đã có một nhãn quan rõ ràng về phát triển. Ngài đã hiểu từ ngữ này nói lên mục tiêu giải cứu các dân tôc, trước hết và trên hết, khỏi đói khổ, thiếu thốn, các thứ chứng bệnh hoạn và tình trạng mù chữ. Theo quan điểm về kinh tế, điều ấy nhắm đến việc họ chủ động tham phần một cách bình đẳng vào tiến trình kinh tế toàn cầu; theo quan điểm xã hội, nó nhắm đến việc tiến hóa thành những xã hội có giáo dục mang đặc tính đoàn kết; theo quan điểm chính trị, nó nhắm đến chỗ củng cố các chế độ dân chủ có khả năng bảo đảm tự do và hòa bình. Sau rất nhiều năm, như chúng ta quan tâm nhận thấy những thứ phát triển cùng với những viễn ảnh về tình trạng nối tiếp xẩy ra các cuộc khủng khoảng đang dằn vặt thế giới ngày nay, chúng ta đặt vấn đề là những sự mong đợi của Đức Phaolô VI đã được nên trọn tới mức độ nào trước mô thức phát triển được chấp hành trong các thập kỷ vừa qua. Bởi thế, chúng ta mới nhận thấy rằng Giáo Hội có đủ lý do tỏ ra quan tâm về khả năng của một xã hội thuần kỹ thuật trong việc đề ra các mục đích thực tiễn cũng như trong việc hưởng dụng các phương tiện trong tầm tay của nó. Lợi lộc là những gì hữu ích khi nó trở thành phương tiện hướng đến một đích điểm bao gồm một cảm quan về cả cách thức mang lại lợi lộc lẫn cách thức hưởng dùng lợi lộc. Một khi lợi lộc trở thành mục đích duy nhất, nếu nó được tạo nên bởi phương tiện thiếu chính đáng và không lấy công ích làm mục đích tối hậu của mình, thì nó có nguy cơ hủy hoại cảnh giầu thịnh và tạo nên cảnh nghèo khổ. Việc phát triển về kinh tế được Đức Phaolô VI mong thấy là những gì nhắm tới một tình trạng phát triển thực sự, một phát triển có lợi cho hết mọi người và thực sự khả trơ. Thật sự là việc tiến triển đã từng xẩy ra và nó tiếp tục là yếu tố tích cực đã cứu giúp hàng tỉ người ra khỏi cảnh khốn khổ – gần đây nó đã cống hiến cho nhiều quốc gia cơ hội trở thành những diễn viên hiệu năng trong chính trường quốc tế. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng cũng việc tăng trưởng này đã từng và đang tiếp tục bị đè nặng bởi những thứ mạo hành và các vấn đề bi thảm, những gì càng nổi bật hơn bởi cuộc khủng hoảng hiện nay. Điều này khiến cho chúng ta không thể trì hoãn những quyết định liên quan tới chính định mệnh của con người, thành phần lại càng không thể nào không quan tâm tới bản tính của họ. Những năng lực về kỹ thuật đang diễn tiến, những mối tương liên toàn cầu, những hậu quả tai hại trên nền kinh tế thực sự gây ra bởi việc hành sử về tài chính được điều hành cách tệ hại và đầu tư cách bao rộng, tình trạng di dân ở tầm mức lớn lao thường gây ra bởi một số hoàn cảnh đặc biệt để rồi không được quan tâm cho đủ, việc khai thác bừa bãi các nguồn lợi của trái đất: tất cả đều dẫn chúng ta hôm nay đến chỗ suy nghĩ về những biện pháp có thể cần thiết trong vấn đề cung cấp một giải pháp cho những vấn đề chẳng những mới mẻ so với những vấn đề được Đức Phaolô VI nói tới, mà còn nhất là ảnh hưởng quyết liệt trên thiện ích của nhân loại hiện tại cũng như tương lai. Những khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng này, những giải quyết của nó, và bất cứ việc phát triển mới nào có thể xẩy ra trong tương lai, đều càng ngày càng tương liên với nhau, chúng bao hàm lẫn nhau, chúng đòi những nỗ lực về một sự hiểu biết trọn vẹn mới và một tổng luận nhân bản mới. Tính chất phức tạp và trầm trọng của tình hình kinh tế hiện tại thực sự là những gì khiến cho chúng ta phải quan tâm, thế nhưng chúng ta cần phải chấp nhận một thái độ thực tế khi chúng ta tin tưởng chấp nhận và hy vọng những trách nhiệm mới mà chúng ta được kêu gọi trước viễn tượng của một thế giới cần đến một cuộc canh tân sâu xa về văn hóa, một thế giới đang cần tái khám phá ra những giá trị nồng cốt để nhờ đó xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Cuộc khủng hoảng hiện nay bắt buộc chúng ta phải tái hoạch định cho cuộc hành trình của chúng ta, đề ra cho mình những qui luật mới và tái khám phá ra những hình thức mới của việc dấn thân, bắt buộc chúng ta phải xây dựng trên những kinh nghiệm tích cực và loại trừ đi những kinh nghiệm tiêu cực. Thế nên cuộc khủng hoảng này trở thành một cơ hội nhận thứcc giúp hình thành một nhãn quan mới cho tương lai. Theo tinh thần này, tin tưởng hơn là thoái lui, thật là thích hợp để nói tới những gì là khó khăn trong thời điểm hiện nay.
22. Ngày nay hình ảnh về việc phát triển có nhiều tầng lớp chồng chất lên nhau. Những diễn viên và những nguyên nhân ở cả tình trạng chậm phát triển lẫn phát triển thì nhiều, những lầm lỗi và những công lênh là những gì khác biệt. Sự kiện này cần phải thúc động chúng ta giải phóng mình khỏi những thứ ý hệ là những gì thường quá đơn giản hóa thực tại bằng những cách thức nhân tạo, và nó cần phải dẫn chúng ta tới chỗ khách quan xem xét chiều kích trọn vẹn nhân bản của các vấn đề. Như Đức Gioan Phaolô II đã nhận định, lằn ranh giới giữa các xứ sở giầu và nghèo không còn sáng tỏ như thời của Thông Điệp Việc Phát Triển của Các dân Tộc [55]. Tình trạng giầu thịnh của thế giới đang gia tăng đến cực độ, thế nhưng những tình trạng chênh lệch cũng đang gia tăng. Ở các xứ sở giầu có, những lãnh vực mới trong xã hội đang chìm vào cảnh nghèo khổ và những hình thức nghèo khổ mới đang hiện lên. Tại các miền nghèo khổ có một số nhóm người đang hoan hưởng một thứ “siêu phát triển” của một loại hưởng thụ hoang phí tạo nên một cảnh tương phản bất khả chấp trước những tình trạng thiếu thốn phi nhân bản đang diễn tiến. “Cái gương mù về những thứ chênh lệch chói lòa” [56] đang tiếp tục xẩy ra. Tình trạng băng hoại và bất hợp pháp tiếc thay là những gì hiển nhiên nơi tác hành của tầng lớp kinh tế và chính trị trong các quốc gia giầu thịnh, cả cũ lẫn mới, cũng như ở các quốc gia nghèo khổ. Trong số thành phần đôi khi không tôn trọng các thứ nhân quyền của nhân viên làm việc là các xí nghiệp đa quốc lớn cũng như các sản xuất gia ở địa phương. Việc trợ cấp quốc tế thường không đạt được các mục đích thích đáng của nó, bằng những hành động vô trách nhiệm cả trong hệ thống của thành phần trao tặng lẫn hệ thống của thành phần thụ hưởng. Tương tự như thế, theo những căn nguyên phi chất thể hay văn hóa của tình trạng phát triển và kém phát triển, chúng ta cũng thấy xuất hiện cả những kiểu mẫu trách nhiệm này. Về phần các xứ sở giầu thịnh, đang có quá nhiệt tình trong việc bảo vệ kiến thức bằng một chủ trương cứng ngắc thiếu chính đáng về quyền lợi của sản vật về tri thức, nhất là trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe. Trong khi đó, ở một số quốc gia nghèo khổ, những mẫu văn hóa và qui chuẩn hành vi cử chỉ xã hội cứ tiếp tục là những gì ngăn trở cho tiến trình phát triển.
23. Nhiều lãnh vực của toàn cầu ngày nay đã biến chuyển một cách đáng kể, mặc dù không rõ rệt và khác biệt, nhờ đó chiếm được chỗ đứng của mình giữa các đại quyền lực là những gì đóng vai trò quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của một thứ thuần kinh tế và kỹ thuật vẫn không đủ. Trên hết, việc phát triển cần phải chân thực và toàn vẹn. Nguyên sự kiện trổi lên từ tình trạng thụt lùi về kinh tế, mặc dù tự nó là những gì tích cực, cũng không giải quyết được những vấn đề phức tạp nơi việc tiến bộ của con người, cả ở những xứ sở đang lao mình tới mức tiến bộ như thế, lẫn ở những xứ sở đã phát triển về kinh tế, hoặc thậm chí ở những xứ sở vẫn còn nghèo khổ, những xứ sở chịu khổ bởi những hình thức bóc lột xưa mà còn bởi những hậu quả tiêu cực của một thứ tăng trưởng mang tính chất bất thường và bấp bênh.Sau cuộc sụp đổ của những hệ thống kinh tế và chính trị ở những xứ sở Cộng sản Đông Âu và sau khi chấm dứt những gì gọi là các khối đối nghịch, đã cần phải thực hiện một cuộc hoàn toàn tái nghiệm xét vấn đề phát triển. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi thực hiện việc này, khi ngài, vào năm 1987, đã vạch ra cho thấy sự hiện hữu của các khối đối nghịch nhau này như là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém phát triển [57], vì chính trị đã rút mất các nguồn lợi từ kinh tế cũng như từ văn hóa, và ý hệ đã ngăn chặn tự do. Hơn nữa, vào năm 1991, sau các biến cố năm 1989, ngài đã yêu cầu, trước cuộc chấm dứt của các khối này, cần phải có một dự án mới mẻ toàn diện cho vấn đề phát triển, chẳng những ở những xứ sở ấy, mà còn ở Tây Âu cũng như ở những phần đất khác trên thế giới đang ở trong tiến trình biến đổi [58]. Điều này mới chỉ đạt được một phần, và nó vẫn còn là một nhiệm vụ thực sự cần phải được giải tỏa, có thể bằng những quyết định cần thiết trong việc thắng vượt những vấn đề về kinh tế hiện nay.
24. Thế giới ở vào thời trước Đức Phaolô VI – thậm chí xã hội đã được biến chuyển cho đến độ ngài có thể nói về các vấn đề xã hội bằng những quan hệ toàn cầu – vẫn còn xa vời với vấn đề hội nhập hơn ngày nay. Hoạt động kinh tế và tiến trình chính trị cả hai được điều hành một cách rộng rãi trong cùng một vùng về địa dư, và vì thế có thể lợi dụng lẫn nhau. Việc sản xuất xẩy ra chủ yếu chỉ ở trong ranh giới quốc gia, và những thứ đầu tư về tiền tệ đã phần nào giới hạn việc luân chuyển ra ngoài quốc gia, nhờ đó chính trị ở nhiều Quốc Gia vẫn có thể định đoạt những thứ ưu tiên về kinh tế và ở một mức độ nào đó quản trị việc thì hành của nó bằng các phương tiện trong tầm tay. Thế nên, Thông Điệp Việc Phát Triển Của Các Dân Tộc đã ủy thác vai trò chính yếu cho dù không duy nhất cho “các thẩm quyền quần chúng” [59].
Trong thời đại của chúng ta đây, Quốc Gia cảm thấy cần phải giải quyết những giới hạn đối với chủ quyền của nó được áp đặt bởi bối cảnh mới của việc giao thương và tiền tệ quốc tế, thứ tiền tệ được đánh dấu bằng việc gia tăng sự chuyển vận của vốn tài chính và phương tiện sản xuất, về thể lý cũng như phi thể lý. Bối cảnh mới này đã làm thay đổi quyền lực chính trị của Quốc Gia.Ngày nay, khi chúng ta chú ý tới những bài học của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, cuộc khủng hoảng cho thấy các thứ quyền bính công khai của Quốc Gia trực tiếp tham gia vào vấn đề sửa chữa các lỗi lầm cùng những mạo hành, thì lại càng thực tế để tái thẩm định vai trò của chúng và các quyền lực của chúng, những quyền lực cần phải được khôn ngoan tái kiểm xét và tái mẫu thức để chúng có thể, có thể nhờ những hình thức mới của vấn đề tham gia, giải quyết các thách đố của thế giới ngày nay. Một khi vai trò của các thẩm quyền quần chúng đã được ấn định rõ ràng hơn, người ta có thể thấy trước một thứ gia tăng nơi các hình thức mới mẻ về việc tham gia chính trị, cả quốc gia lẫn quốc tế, một việc tham gia xẩy ra nhờ hoạt động của các cơ quan hoạt động trong xã hội dân sự; nhờ đó hy vọng rằng lợi ích và việc tham gia của người công dân ở lãnh vực quần chúng res publica được cắm rễ sâu xa hơn.
25. Từ quan điểm về xã hội thứ hai này, những hệ thống bảo vệ và an ninh, bao giờ cũng có ở nhiều xứ sở vào thời Đức Phaolô VI, đang gặp phải khó khăn và có thể càng khó hơn nữa mai ngày trong việc theo đuổi các mục tiêu về công bằng xã hội thực sự của chúng ở một môi trường biến đổi sâu xa ngày nay. Thị trường toàn cầu, đã kích thích, trước hết và trên hết, về phía các quốc gia giầu thịnh, một cuộc tìm kiếm những miền đất thực hiện việc sản xuất phụ thầu ở chi phí hạ hầu giảm giá được nhiều sản phẩm, gia tăng khả năng mua bán nhờ đó gia tốc mức độ phát triển về tính cách thuận lợi hơn nữa đối với những sản phẩm tiêu thụ cho thị trường nội địa. Bởi đó thị trường đã nẩy sinh những hình thức mới của tình trạng cạnh tranh giữa các Quốc Gia khi họ tìm cách lôi kéo những thương vụ ngoại quốc trong việc thiết lập những trung tâm sản xuất, bằng các dụng cụ khác nhau, bao gồm cả những chính sách thuận lợi về tài chính lẫn việc phi định chế về thị trường lao động. Những tiến trình này đã dẫn tới chỗ làm suy giảm đi các hệ thống an ninh về xã hội bằng một giá phải trả cho việc tìm kiếm lợi ích cạnh tranh hơn nữa trên thị trường toàn cầu, mà hậu quả đó là sự nguy hiểm trầm trọng đối với các quyền lợi của các nhân viên, đối với các quyền lợi nồng cốt của con người cũng như đối với tình đoàn kết liên hệ tới các hình thức truyền thống của Quốc Gia xã hội. Các hệ thống an sinh xã hội có thể mất đi khả năng thi hành phần việc của mình, cả ở những xứ sở đang lên lẫn ở các xứ sở thuộc về thành phần phát triển sớm nhất, cũng như ở các xứ sở nghèo khổ. Đến đây, các chính sách về ngân sách, bằng những thứ cắt giảm chi tiêu về xã hội thường được thực hiện bởi áp lực của các cơ cấu tài chính quốc tế, có thể khiến cho thành phần công dân trở thành bất lực trước những nguy cơ cũ mới; tình trạng bất lực này đang gia tăng bởi vấn đề thiếu mất việc bảo vệ hữu hiệu về phía các hiệp hội của thành phần nhân viên. Nhờ việc bao gồm vấn đề thay đổi cả về xã hội và kinh tế, các tổ chức nghiệp đoàn thương mại đang cảm thấy khó khăn hơn nữa nơi việc thi hành công việc của mình làm đại diện cho các lợi ích của thành phần nhân viên, một phần bởi Chính Quyền, vì những lý do lợi ích về kinh tế, thường giới hạn quyền tự do hay khả năng điều đình của các nghiệp đoàn lao động. Bởi thế các liên hệ truyền thống về tình đoàn kết cần phải thắng vượt các trở ngại càng ngày càng nhiều. Những lời kêu gọi được lập đi lập lại từ giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, bắt đầu từ Thông Điệp Tân Sự Rerum Novarum [60], đối với việc cổ võ những hiệp hội lao động có thể bênh vực các quyền lợi của họ, bởi thế, cần phải được tôn trọng, ngày nay thậm chí còn hơn cả trong quá khứ nữa, như là một đáp ứng mau chóng và khôn ngoan cho nhu cầu khẩn trương về những hình thức hợp tác mới ở tầm mức quốc tế cũng như ở tầm mức địa phương.
Vấn đề di động lao công, liên kết với một thứ bầu khí phi qui định, là một hiện tượng quan trọng với một số khía cạnh tích cực, vì nó có thể kích thích việc dồi dào sản xuất và việc trao đổi văn hóa. Tuy nhiên, lại không vững chắc đối với các điều kiện làm việc gây ra bởi vấn đề di động và phi qui định, khi nó trở thành đặc hữu, có khuynh hướng tạo nên các hình thức mới của tình trạng bất ổn định về tâm lý, gây khó khăn cho việc hình thành những dự án gắn bó đời sống, bao gồm cả việc gắn bó đời sống hôn nhân. Điều này dẫn đến những tình trạng suy thoái của con người, chưa nói gì tới vấn đề phung phí các nguồn lợi xã hội. So sánh với những tai họa về xã hội kinh tế trong quá khứ, vấn đề thất nghiệp ngày nay tạo nên những hình thức mới của việc xa lìa hóa kinh tế, và cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ có thể làm cho tình trạng này trở nên tệ hơn nữa. Tình trạng không có việc làm hay lệ thuộc vào việc trợ giúp chung riêng trong một thời gian kèo dài đang làm hao mòn quyền tự do và khả năng sáng tạo của con người và gia đình họ cùng với những liên hệ xã hội, gây nhiều khổ đau về tâm lý và tinh thần. Tôi muốn nhắc nhở mọi người, nhất là các chính quyền đang cố nâng cao những vốn liếng về xã hội và kinh tế của thế giới, rằng vốn liếng căn bản cần phải được bảo toàn và trân trọng đó là con người, là con người toàn vẹn của họ. “Con người là nguồn mạch, là tâm điểm và là mục đích của toàn thể đời sống kinh tế và xã hội” [61].
26. Về phương diện văn hóa, so với thời của Đức Phaolô VI, cái khác biệt thậm chí lại còn đậm nét hơn nữa. Ở vào thời đó, các nền văn hóa tương đối được xác định rõ và có cơ hội hơn trong việc bênh vực mình trước những nỗ lực làm cho chúng trở thành duy nhất. Ngày nay, các cơ hội của việc giao tiếp giữa các nền văn hóa đã gia tăng đáng kể, làm nẩy sinh những sự cởi mở mới cho việc đối thoại liên văn hóa: một đối thoại mà, nếu hiệu nghiệm, cần phải bắt đầu từ một kiến thức sâu xa về căn tính riêng biệt của thành phần đối thoại khác nhau. Đừng quên rằng việc thương mại hóa gia tăng về việc trao đổi văn hóa ngày nay đang dẫn tới một mối nguy hiểm song phương. Thứ nhất, người ta có thể nhận thấy một thứ chiết trung về văn hóa thường có vẻ ngây ngô, ở chỗ, các nền văn hóa chỉ được đặt bên nhau và chính yếu được coi như tương đương với nhau và khả liên hoán. Điều này dễ dàng đi tới một thứ chủ nghĩa tương dối không giúp vào việc thực sự đối thoại có tính cách liên văn hóa; về phương diện xã hội, chủ nghĩa tương đối về văn hóa gây tác dụng ở chỗ các nhóm về văn hóa cùng nhau sát cánh chung sống, mà vẫn phân biệt, không có vấn đề đối thoại thực sự và vì thế không có vấn đề hội nhập thực sự. Thứ hai, cái nguy hiểm trái nghịch xẩy ra là cái nguy hiểm của việc san bằng văn hóa và việc bừa bãi chấp nhận các kiểu cách tác hành và lối sống. Theo đó, người ta mất đi cái ý nghĩa sâu xa của văn hóa ở những quốc gia khác nhau, của những truyền thống thuộc các dân tộc khác nhau, nhờ đó cá nhân xác nhận mình liên quan tới các vấn đề nồng cốt của cuộc sống [62]. Điều mà việc chiết trung và san bằng văn hóa cùng có giống nhau đó là tách văn hóa ra khỏi bản tính của con người. Như thế, văn hóa không còn xác nhận mình trong một bản tính siêu việt hơn chúng [63], và con người cuối cùng bị giảm thiểu thành một thứ thống kê thuần túy về văn hóa. Khi điều này xẩy ra, nhân loại sẽ đụng đầu với những mối nguy cơ mới của tình trạng làm nô lệ và bị khai thác.
27- Sự sống ở nhiều xứ sở nghèo vẫn còn hết sức bất an gây ra bởi tình trạng thiếu thốn về thực phẩm, và tình trạng này có thể trở thành tệ hại hơn, ở chỗ nạn đói vẫn thu hoạch một con số khổng lồ các nạn nhân, trong đó, như Lazarô, có những người không được phép ngồi vào bàn của người giầu, ngược với những niềm hy vọng được Đức Phaolô bày tỏ [64]. Cho kẻ đói ăn (cf Mt 25:35,37,42) là một lệnh truyền về đạo lý đối với Giáo Hội hoàn vũ, khi Giáo Hội đáp ứng các giáo huấn được Đấng Sáng Lập của mình là Chúa Giêsu truyền dạy, liên quan tới tình đoàn kết và việc chia sẻ những sản vật. Ngoài ra, việc loại trừ tình trạng đói khổ trên thế giới, trong kỷ nguyên toàn cầu, cũng đã trở thành một đòi hỏi cần phải bảo toàn nền hòa bình và tình trạng vững bền của trái đất. Tình trạng đói khổ không lệ thuộc nhiều vào sự thiếu hụt những điều về vật chất cũng như vào sự khan hiếm những nguồn xã hội trong đó quan trọng nhất là vấn đề cơ cấu tổ chức. Nói cách khác, cái đang bị thiếu vắng đây là một thứ hệ thống của những cơ cấu tổ chức về kinh tế có thể bảo đảm phương tiện thường xuyên có được đầy đủ lương thực và nước nôi theo nhu cầu dinh dưỡng, cũng như có thể giải quyết những nhu cầu và thiết yếu căn bản xuất phát từ những cuộc khủng hoảng thực sự về lương thực, gây ra bởi những nguyên do tự nhiên hay bởi vấn đề vô trách nhiệm về chính trị ở lãnh vực quốc gia và quốc tế. Vấn đề thiếu an toàn về lương thực cần phải được giải quyết trong một viễn ảnh dài hạn, bằng việc loại trừ đi những nguyên nhân về cơ cấu gây ra cho nó và bằng cách cổ võ việc phát triển nông nghiệp ở những quốc gia nghèo. Điều này có thể thực hiện bằng việc đầu tư vào những hạ tầng cơ sở làng mạc, các hệ thống dẫn thủy nhập điền, việc chuyên chở, tổ chức các thị trường, cũng như bằng việc phát triển và phổ biến kỹ thuật nông nghiệp có thể sử dụng tối đa những nguồn lợi về nhân bản, thiên nhiên và kinh tế xã hội đang hết sức thuận lợi ở tầm cấp địa phương, đồng thời bảo đảm khả năng duy trì của chúng có tính cách dài hạn nữa. Tất cả những điều ấy cần phải được hoàn thành với sự tham gia của các cộng đồng địa phương vào những chọn lựa và quyết định ảnh hưởng tới việc sử dụng đất đai nông nghiệp. Về quan điểm này, cần phải quan tâm tới những tiềm năng mới đang lộ dạng qua việc sử dụng thích đáng những kỹ thuật trồng cấy truyền thống cũng như mới mẻ tân thời, luôn bảo đảm rằng những kỹ thuật này cần phải được phán đoán, sau khi được thử nghiệm đầy đủ, một cách thích đáng, tôn trọng môi trường và chú ý tới những nhu cầu của thành phần dân chúng bị hụt hẫng nhất. Đồng thời cũng không được coi thường vấn đề công bằng cải cách ruộng đất ở những xứ sở đang phát triển. Quyền được có thực phẩm cũng như quyền có nước nôi có một chỗ đứng quan trọng trong việc theo đuổi những thứ quyền lợi khác, bắt đầu với quyền sống căn bản. Bởi thế, cần phải vun trồng một thứ lương tâm công chúng coi lương thực và phương tiện có được nước nôi như là các quyền lợi phổ quát của tất cả mọi con người, bất biệt phân và kỳ thị [65]. Ngoài ra, cũng cần phải nhấn mạnh rằng tình liên đới với các xứ sở nghèo trong tiến trình phát triển có thể hướng đến một thứ giải quyết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, như các chính trị gia và các vị giám đốc những tổ chức quốc tế đã bắt đầu cảm nhận thấy mới đây. Nhờ việc nâng đỡ các xứ sở nghèo về kinh tế bằng những dự án tài chính xuất phát từ tình đoàn kết – nhờ đó những xứ sở ấy có thể tiến đến chổ thỏa đáng việc đòi hỏi của công dân mình về các sản vật tiêu thụ cũng như về việc phát triển – chẳng những có thể xuất phát một thứ phát triển thực sự về kinh tế mà còn là một đóng góp được thực hiện để bảo trì những khả năng sản xuất của các xứ sở giầu thịnh đang có nguy cơ bị tác hại bởi cuộc khủng hoảng này.
28. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề phát triển ngày nay là vấn đề quan trọng về việc tôn trọng sự sống, một vấn đề không thể nào tách khỏi các vấn đề liên quan tới việc phát triển của các dân tộc. Nó là một khía cạnh chiếm một vị thể càng nổi nang gần đây, buộc chúng ta phải nới rộng quan điểm của mình về vấn dề nghèo khổ [66] cũng như về tình trạng kém phát triển trong việc bao gồm những vấn đề liên hệ tới việc chấp nhận sự sống, nhất là trong những trường hợp nó bị ngăn trở bởi những cách thức khác nhau.
Tình trạng nghèo khổ chẳng những vẫn còn gây ra tử vong hài nhi cao độ ở nhiều miền đất, mà ở một số nơi trên thế giới vẫn trải qua những việc kiểm soát nhân khẩu, về phía các chính quyền thường phát động việc ngừa thai và thậm chí đi đến chỗ áp đặt phải phá thai. Ở những xứ sở phát triển về kinh tế, luật lệ chống lại sự sống rất thịnh hành, và nó đã tạo nên những thái độ và tập tục luân lý, góp phần vào việc lan tràn tâm thức chống sinh nở; thường có những nỗ lực xuất cảng thứ tâm thức này cho các Quốc Gia khác như nó là một hình thức của vấn đề tiến bộ về văn hóa.Một số Tổ Chức ngoài chính quyền đang chủ động thực hiện việc truyền bá vấn đề phá thai, có những lúc cổ võ việc triệt sản ở các quốc gia nghèo, ở một số trường hợp thậm chí không thông báo cho phụ nữ trong cuộc biết rằng họ bị triệt sản. Ngoài ra, có lý do để ngờ vực rằng việc trợ giúp phát triển đôi khi liên hệ tới những chính sách chăm sóc sức khỏe đặc biệt là những gì thực tế bao gồm vấn đề áp đặt những biện pháp mạnh mẽ kiểm soát vấn đề sinh sản. Những mối quan tâm khác nữa đó là các thứ luật lệ cho phép triệt sinh an tử cũng như vấn đề áp lực từ các nhóm vận động, thuộc lãnh vực quốc gia và quốc tế, để vấn đề triệt sinh an tử này được luật pháp công nhận.Việc cởi mở đối với sự sống là tâm điểm của vấn đề phát triển thực sự. Khi một xã hội tiến tới chỗ phủ nhận hay triệt hạ sự sống, nó sẽ tiến đến chỗ không còn tìm thấy động lực và nghị lực cần thiết để chiến đấu cho thiện ích thực sự của con người nữa. Nếu mất đi cảm quan nơi cá nhân và xã hội đối với việc chấp nhận một sự sống mới thì những hình thức khác của việc chấp nhận đáng giá với xã hội cũng sẽ bị tàn lụi đi [67]. Việc chấp nhận sự sống là những gì làm kiên cường cơ cấu luân lý và làm cho dân chúng có khả năng giúp đỡ lẫn nhau. Bằng việc vun trồng thái độ cởi mở đối với sự sống, thành phần giầu sang có thể hiểu được hơn nữa các nhu cầu của thành phần nghèo khổ, họ có thể tránh đi việc lợi dụng các nguồn lợi lớn lao về kinh tế và tri thức để thỏa mãn những ước muốn vị kỷ của thành phần công dân họ, thay vào đó, họ có thể cổ võ hoạt động một cách đức hạnh theo quan điểm của vấn đề sản xuất có tính cách lành mạnh về luân lý và mang đặc tính kết đoàn, tỏ ra tôn trọng quyền sống căn bản của hết mọi người và hết mọi cá nhân.
29. Còn một khía cạnh khác của đời sống tân tiến rất liên hệ với vấn đế phát triển, đó là việc chối bỏ quyền tự do tôn giáo. Tôi không chỉ nói tới những chống chọi và những xung khắc tiếp tục xẩy ra trên thế giới vì những động lực tôn giáo, thậm chí có những lúc động lực tôn giáo này chỉ là một thứ bình phong cho những lý do khác, chẳng hạn như ước muốn thống trị và giầu sang. Thật vậy, ngày nay dân chúng thường hay nhân danh Thiên Chúa để sát hại, như cả vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II lẫn tôi thường công khai nhận định và than van [68]. Bạo lực là những gì ngăn chặn việc phát triển chân chính và ngăn cản việc tiến hóa của chư dân hướng tới tình trạng phúc hạnh về kinh tế xã hội và thiêng liêng. Điều này áp dụng đặc biệt cho việc khủng bố bị tác động bởi chủ nghĩa bảo thủ [69] là những gì gây ra sầu thương, hủy hoại và chết chóc, cản trở việc đối thoại giữa chư quốc và làm cho những việc sử dụng an bình và dân sự của họ bị mất đi những nguồn lợi dồi dào.
Tuy nhiên, cần phải thêm rằng, như chủ nghĩa cuồng tín về tôn giáo, trong một số trường hợp, cản ngăn việc thực thi quyền tự do tôn giáo thế nào thì cũng thế, việc cổ võ thái độ dửng dưng về tôn giáo hay chủ nghĩa vô thần thực dụng nơi nhiều xứ sở là những gì ngăn chặn những đòi hỏi về vấn đề phát triển chư dân, khi làm cho họ bị hụt hẫng những nguồn lợi về tinh thần và nhân bản.Thiên Chúa là vị bảo đảm cho vấn đề phát triển chân thực của con người, như Ngài đã dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài, Ngài cũng thiết lập phẩm giá siêu việt cho con người nam nữ và khơi dậy nơi họ một niềm sâu xa mong ước “được trở nên hơn nữa”. Con người không phải là một nguyên tử lạc loài trong một vũ trụ ngẫu nhiên [70]: họ là tạo vật của Thiên Chúa, thành phần được Ngài trang bị bằng một linh hồn bất tử và luôn được Ngài yêu thương. Nếu con người chỉ là hoa trái của tình cờ hay tất yếu, hay nếu họ phải hạ thấp những ước vọng của mình xuống tới chân trời hạn hẹp của thế giới họ đang sống, nếu tất cả mọi thực tại chỉ là lịch sử và văn hóa, và con người không có một bản tính được ấn định trổi vượt chính mình bằng một đời sống siêu nhiên, thì người ta có thể nói về tăng trưởng, hay tiến hóa mà thôi chứ không phải là phát triển. Khi Quốc Gia cổ võ, giảng dạy hay thực sự áp đặt những hình thức của chủ nghĩa vô thần thực dụng, thì nó làm cho thành phần công dân của nó bị mất đi sức mạnh luân lý và thiêng liêng bất khả thiếu cho việc đạt được tình trạng phát triển toàn vẹn, và nó ngăn cản họ tiến bước bằng một động lực mới khi họ nỗ lực cống hiến một đáp ứng nhân bản quảng đại hơn đối với tình yêu thần linh [71]. Trong bối cảnh của những mối liên hệ về văn hóa, thương mại hay chính trị, đôi khi cũng xẩy ra là những xứ sở đã phát triển hay đang vươn lên về kinh tế đang xuất cảng thứ nhãn quan giảm thiểu này về con người cùng định mệnh của mình sang các xứ sở nghèo khổ. Đây là một thứ tai hại mà “tình trạng siêu phát triển” [72] gây ra cho vấn đề phát triển chân thực khi nó được kèm theo bằng một thứ “kém phát triển về luân lý” [73].
30. Trong bối cảnh này, đề tài về việc phát triển toàn vẹn con người thậm chí có một ý nghĩa bao rộng hơn nữa, ở chỗ mối tương quan giữa những yếu tố dồi dào của nó đòi phải quyết tâm nuôi dưỡng mối tương tác của những tầm mức khác nhau của kiến thức con người, để cổ võ việc phát triển đích thực chư dân. Việc phát triển hay những tầm mức kinh tế xã hội theo đó thường được nghĩ rằng chỉ cần được vun trồng nhờ hoạt động chung. Tuy nhiên, hoạt động chung này cần phải được hướng dẫn, vì “tất cả mọi hoạt động xã hội đều bao gồm một giáo huấn” [74]. Trước tính cách phức tạp của các vấn đề ấy, hiển nhiên là những cương lĩnh khác nhau cần phải cùng nhau hoạt động bằng một trao đổi liên cương một cách lớp lang. Bác ái không loại trừ kiến thức, trái lại, đòi hỏi, cổ võ và làm cho nó sinh động từ bên trong. Kiến thức không bao giờ thuần túy là hoạt động của lý trí. Nó có thể thực sự bị biến thành tính toán và thử nghiệm, nhưng nếu nó muốn trở thành sự khôn ngoan có khả năng hướng dẫn con người theo chiều hướng của những khởi nguyên và cùng những cùng đích của họ, thì nó cần phải được “gia vị” với “muối” bác ái. Những việc làm thiếu hiểu biết đều là những gì mù quáng, và kiến thức cthiếu yêu thương đều là những gì cằn cỗi. Thật vậy, “cá nhân nào được sinh động bởi đức bác ái đích thực thì nỗ lực một cách khéo léo để khám phá ra những căn nguyên của khốn khổ, để tìm cách chiến đấu với nó, quyết tâm chế ngự nó” [75]. Đối diện với hiện tượng trước mắt chúng ta, bác ái trong chân lý trước hết đòi hỏi là chúng ta cần phải biết và hiểu, khi nhìn nhận và tôn trọng khả năng chuyên biệt của mọi cấp độ hiểu biết. Bác ái không phải là một thứ phụ trội được thêm thắt vào, như một thứ phụ lục cho công việc đã được đúc kết ở từng các cương lĩnh khác nhau: nó liên kết chúng vào việc đối thoại ngay từ ban đầu. Các đòi hỏi của yêu thương không nghịch lại với những đòi hỏi của lý trí. Kiến thức của con người là những gì thiếu sót và những kết luận của khoa học tự chúng không thể vạch định ra con đường tiến tới việc phát triển toàn vẹn con người. Bao giờ cũng cần phải đẩy mạnh lên hơn nữa: đó là những gì bác ái trong chân lý đòi hỏi [76]. Tuy nhiên, việc vượt hơn đây không có nghĩa là bất cần đến các kết luận của lý trí, không có nghĩa là nghịch lại với những thành quả của nó. Kiến thức và yêu thương không phải ở trong những gian phòng tách biệt: yêu thương thì phong phú nhờ kiến thức và kiến thức thì tràn đầy yêu thương.
31. Điều này có nghĩa là việc thẩm định về luân lý và việc nghiên cứu về khoa học phải đi song song với nhau, và đức bác ái cần phải làm cho chúng sinh động trong một tổng thể hòa hợp liên cương lĩnh, có tính cách hiệp nhất và chuyên biệt. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, một giáo huấn có “một chiều kích liên cương lĩnh quan trọng” [77], theo quan điểm này, có thể thi hành một phần vụ hiệu nghiệm đặc biệt. Nó giúp cho đức tin, thần học, siêu hình học và khoa học liên hợp với nhau trong một nỗ lực hợp tác để phục vụ nhân loại. Ở đây, trước hết, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội cho thấy chiều kích khôn ngoan của mình. Đức Phaolô VI đã thấy rõ ràng là trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng kém phát triển đó là vấn đề thiếu khôn ngoan và suy tư, thiếu mất việc suy nghĩ có khả năng hình thành một tổng hợp soi dẫn [78], một tổng hợp đòi phải có “một nhãn quan rõ ràng về những khía cạnh về kinh tế, xã hội, văn hóa và thiêng liêng” [79]. Tình trạng phân mảnh quá mức của kiến thức [80], việc các khoa học nhân bản loại trừ đi khoa siêu hình học [81], những khó khăn gặp phải nơi vấn đề đối thoại trao đổi giữa khoa học và thần học, đang là những gì làm hư hại chẳng những cho vấn đề phát triển của kiến thức mà còn cho việc phát triển của các dân tộc nữa, vì những điều ấy làm chúng ta khó thấy được sự thiện toàn vẹn của con người nơi các chiều kích khác nhau của sự thiện này. “Việc nới rộng quan niệm của chúng ta về lý trí cùng với việc áp dụng của nó” [82] là những gì bất khả thiếu nếu chúng ta muốn thành công trong việc cân nhắc một cách đầy đủ tất cả mọi yếu tố liên quan tới vấn đề phát triển cũng như trong việc giải quyết các vấn đề về kinh tế xã hội.
32. Những yếu tố mới đáng kể trong bức tranh phát triển của các dân tộc ngày nay, ở nhiều trường hợp, đòi phải có những giải pháp mới. Cần phải tìm thấy những điều này chung với nhau, khi tỏ ra tôn trọng những luật lệ thích hợp với từng yếu tố và theo chiều hướng của một nhãn quan toàn vẹn về con người, khi lưu ý tới những khía cạnh khác nhau về con người, một con người được ngắm nhìn bằng một ống kính tinh tuyền nhờ đức bác ái. Những tụ điểm đáng kể và những giải pháp khả dĩ bấy giờ sẽ xuất hiện, không một yếu tố căn bản nào về đời sống con người bị lu mờ.
Phẩm giá của cá nhân con người và những đòi hỏi của công lý, đặc biệt ngày nay, đòi hỏi là những chọn lựa về kinh tế không được gây ra tình trạng gia tăng những chênh lệch về sự giầu có một cách thái quá và bất khả chấp về luân lý [83], và chúng ta tiếp tục ưu tiên hóa mục tiêu mang lại việc làm ăn vững bền cho hết mọi người. Tất cả mọi sự đều phải được quan tâm lưu ý tới, điều này cũng được “lý lẽ về kinh tế” đòi hỏi. Qua việc gia tăng một cách có hệ thống về tình trạng bất quân bình xã hội, cả trong từng xứ sở lẫn giữa dân chúng ở các xứ sở khác nhau (chẳng hạn sự kiện gia tăng ào ạt nơi tình trạng tương đối nghèo khổ), không phải chỉ tác hại tới vấn đề gắn bó về xã hội, do đó gây nguy hiểm cho chế độ dân chủ, mà còn tới cả nền kinh tế nữa, nơi tình trạng gia tăng soi mòn về “cái vốn liếng xã hội”, đó là hệ thống của các mối liên hệ về lòng tin tưởng, khả năng lệ thuộc, và việc tôn trọng các thứ luật lệ, tất cả đều là những gì bất khả thiếu cho bất cứ hình thức chung sống dân sự nào.
Khoa kinh tế học nói với chúng ta rằng vấn đề bất an toàn về cấu trúc là những gì gây ra những thái độ phản sản xuất làm hoang phí đi các nguồn nhân bản, vì các nhân viên có khuynh hướng thụ động chiều theo guồng máy tự động hơn là có tính cách sáng tạo. Cả về điểm này nữa, có một tụ điểm giữa khoa kinh tế học và việc thẩm định về luân lý. Những trả giá về nhân bản bao gồm những trả giá về kinh tế, và những lệch lạc tác hành về kinh tế bao giờ cũng phải trả giá về nhân bản.
Cần phải nhớ rằng việc biến các thứ văn hóa thành chiều kích kỹ thuật, thậm chí vì lợi lộc ngắn hạn, thì về lâu về dài cũng cản trở việc làm phong phú nhau và động lực hợp tác. Cần phải phân biệt giữa những quan tâm ngắn hạn và dài hạn về kinh tế hay xã hội học. Việc giảm bớt mức độ bảo vệ hợp với quyền lợi của các nhân viên, hay việc hủy bỏ cơ cấu tái phân phối sự giầu thịnh để gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia, đều cản trở vấn đề chiếm đạt việc phát triển lâu dài. Hơn nữa, những hậu quả về nhân bản của các khuynh hướng hiện nay đối với một thứ kinh tế ngắn hạn – đôi khi rất ngắn hạn – cần phải cẩn thận thẩm định. Điều này đòi phải suy nghĩ xa xôi hơn nữa và sâu xa hơn nữa về ý nghĩa của nền kinh tế cùng với các mục đích của nó [84], cũng như đòi phải xem xét lại một cách sâu xa và viễn kiến về mẫu thức hiện nay của vấn đề phát triển, hầu sửa sai những thứ thiếu lạnh mạnh và lệch lạc.
33. Hơn 40 năm sau Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đề tài căn bản của nó, tức là vấn đề tiến bộ, vẫn còn là một vấn đề cởi mở, một vấn đề càng trở thành cấp tính và khẩn trương hơn nữa trước cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính hiện nay. Nếu một số miền đất trên thế giới, từ một lịch sử nghèo khổ, đã trải qua những thay đổi đáng kể, liên quan tới vấn đề tăng trưởng kinh tế của mình cùng với việc tham phần vào việc sản xuất toàn cầu, thì các miền khác vẫn còn đang sống trong một tình trạng thiếu hụt so với tình hình ở vào thời của Đức Phaolô VI, và trong một số trường hợp, người ta thậm chí có thể nói về một thứ suy thoái. Vấn đề ở đây là có một số nguyên nhân cho tình trạng này đã được điểm mặt trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, chẳng hạn như những thứ quan thuế cao do các xứ sở phát triển về kinh tế áp đặt, những thứ quan thuế vẫn gây khó khăn cho những sản phẩm của các xứ sở nghèo chiếm được một chỗ đứng nơi thị trường của các xứ sở giầu có. Tuy nhiên, những nguyên nhân khác được đề cập tới qua loa trong bức Thông Điệp này từ đó đã trở thành rõ nét hơn. Một trường hợp được nhắm đến đó là việc thẩm định về tiến trình phi thực dân hóa bấy giờ đang ở vào lúc cao điểm của nó. Đức Phaolô VI đã hy vọng thấy được cuộc hành trình này tiến tới chỗ tự lập được triển nở một cách tự do và trong an bình. Hơn 40 năm sau, chúng ta cần phải nhìn nhận rằng cuộc hành trình này khó khăn biết bao, cả vì những hình thức mới của chủ nghĩa thực dân và việc tiếp tục lệ thuộc vào những quyền lực ngoại bang cũ mới, cũng như vì thái độ vô trách nhiệm trầm trọng trong chính các xứ sở đã đạt được nền độc lập.
Đặc tính mới mẻ chính yếu là cuộc bùng nổ về việc liên thuộc toàn cầu, thường được coi như là việc toàn cầu hóa. Đức Phaolô VI đã thấy được nó một phần nào, thế nhưng bước tiến dữ dội của nó khiến nó xoay vần tiến hóa thì không thể nào lường trước nổi. Xuất phát từ các xứ sở phát triển về kinh tế, tiến trình này, tự bản chất của nó, đã lan tràn ra bao gồm tất cả mọi nền kinh tế. Nó đã từng là một lực đẩy chính yếu cho việc trồi lên khỏi tình trạng kém phát triển của toàn thể những miền đất, và tự mình, nó cho thấy một cơ hội cả thể. Tuy nhiên, không được hướng dẫn bởi đức ái trong chân lý, cái lực lượng toàn cầu này có thể gây ra tai hại chưa từng thấy và tạo nên những chia rẽ mới trong gia đình nhân loại. Bởi thế, bác ái và chân lý đối với chúng ta trở thành một thách đố mới mẻ và sáng tạo, một thách đố thực sự là rộng lớn và phức tạp. Đó là vấn đề nới rộng tầm vóc của lý trí và làm cho nó có khả năng hiểu biết và hướng dẫn những lực lượng mãnh liệt mới mẻ này, làm cho chúng sinh động theo chiều hướng của “nền văn minh yêu thương” được Thiên Chúa gieo mầm nơi hết mọi người, nơi hết mọi nền văn hóa.
Chương Ba
Tình Huynh Đệ, Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội Dân Sự
34. Bác ái trong chân lý đặt con người trước cảm nghiệm lạ lùng của việc ban tặng. Tính chất nhưng không hiện hữu trong đời sống của chúng ta nơi nhiều hình thức khác nhau, những hình thức thường không nhận ra bởi một thứ chủ nghĩa thuần hưởng thụ và quan điểm thực dụng về đời sống. Con người được dựng nên để ban tặng, một thứ ban tặng bày tỏ và hiện thực chiều kích siêu việt của họ. Đôi khi con người tân tiến xác tín một cách lầm lạc rằng họ là tác giả duy nhất của chính mình, của sự sống họ và của xã hội. Đây là một giả tưởng xuất phát từ chỗ khép kín bản thân mình một cách vị kỷ, và là hậu quả – nói theo ngôn từ đức tin – của nguyên tội. Sự khôn ngoan của Giáo Hội bao giờ cũng vạch ra cho thấy sự hiện diện của nguyên tội nơi những điều kiện của xã hội cũng như nơi cấu trúc của xã hội: “Việc coi thường sự kiện là con người có một bản tính bị tổn thương hướng chiều về sự dữ đang gây ra những lầm lỗi trầm trọng ở những lãnh vực về giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý” [85]. Trong danh sách của những lãnh vực rõ ràng cho thấy hậu quả độc hại của tội lỗi, thì, qua một thời gian, hiện nay có cả kinh tế nữa. Chúng ta có chứng cớ rõ ràng về điều ấy vào lúc này đây. Niềm xác tín là con người là thành phần tự mãn và có thể thành công trong việc loại trừ đi sự dữ đang hiện diện trong lịch sử bằng nguyên hoạt động của mình đã dẫn họ đến chỗ lẫn lộn hạnh phúc và ơn cứu độ với những hình thức thịnh vượng vật chất và hoạt động xã hội. Rồi tới niềm xác tín rằng nền kinh tế cần phải biệt lập tự động, cần phải được bao che cho khỏi “những ảnh hưởng” của một thứ tính chất luân lý, đã dẫn con người tới chỗ lạm dụng tiến trình kinh tế một cách hoàn toàn hủy hoại. Về lâu về dài, những thứ tin tưởng này đã dẫn đến những hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị chà đạp lên tự do cá nhân và xã hội, và vì thế không thể mang lại công lý như chúng hứa hẹn. Như tôi đã nói trong Thông Điệp Niềm Hy Vọng Cứu Độ, lịch sử bởi thế đã hụt hẫng niềm hy vọng Kitô giáo [86], bị hụt hẫng một nguồn mạch xã hội mãnh liệt để phục vụ việc phát triển toàn vẹn con người là việc phát triển được thực hiện trong tự do và công lý. Niềm hy vọng phấn khích lý trí và cống hiến cho nó sức mạnh để hướng dẫn ý muốn [87]. Nó đã hiện diện nơi đức tin, thực sự nó được đức tin kêu gọi. Bác ái trong chân lý dinh dưỡng bằng niềm hy vọng và đồng thời bộc lộ niềm hy vọng ấy. Là một tặng ân hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, niềm hy vọng bừng lên trong đời sống của chúng ta như là một cái gì đó không hợp với chúng ta, một cái gì đó vượt trên hết mọi luật lệ của công lý. Tặng ân tự mình là những gì vượt lên trên công lênh sự nghiệp, qui luật của nó là qui luật của những gì dồi dào dự dật. Nó chiếm chỗ trên hết trong linh hồn chúng ta như dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta, một dấu hiệu của những gì Ngài mong đợi nơi chúng ta. Chân lý – tự mình là một tặng ân, như đức bác ái – là những gì cao cả hơn chúng ta, như Thánh Âu Quốc Tinh dạy [88]. Cũng thế, sự thật về chính bản thân chúng ta, về lương tâm riêng tư của chúng ta, trước hết được ban cho chúng ta. Trong hết mọi tiến trình hiểu biết, sự thật không phải là một cái gì đó do chúng ta sản xuất ra, nó bao giờ cũng là những gì được tìm kiếm, hay đúng hơn, được nhận lãnh. Như yêu thương, chân lý “không phải là những gì được dự tính hay ước muốn, mà là cái tự áp đặt mình một cách nào đó trên con người” [89].
Vì là một tặng ân được mọi người lãnh nhận mà bác ái trong chân lý là một quyền lực xây dựng cộng đồng, nó mang tất cả mọi người đến với nhau mà không áp đặt những ngăn trở hay giới hạn. Cộng đồng của con người được chính chúng ta đang xây dựng đây không bao giờ có thể, hoàn toàn tự sức mình, là một cộng đồng huynh đệ trọn vẹn, hay không bao giờ có thể thắng vượt được hết mọi chia rẽ và trở nên một cộng đồng hoàn vũ thực sự. Mối hiệp nhất của nhân loại, mối hiệp thông huynh đệ vượt trên hết mọi ngãng trở, được kêu gọi hiện hữu bởi lời Thiên Chúa Đấng là Tình Yêu. Khi nói tới vấn đề then chốt này, chúng ta cần phải làm sáng tỏ, một đàng, lý lẽ của tặng ân không loại trừ công lý, cũng không phải chỉ là một thứ yếu tố phụ thuộc được thêm thắt vào từ bên ngoài; đàng khác, việc phát triển về kinh tế, xã hội và chính trị, nếu thực sự là nhân bản, cần phải giành chỗ cho nguyên tắc nhưng không như là một biểu hiện của tình yêu thương huynh đệ.
35. Trong bầu khí tin tưởng lẫn nhau, thị trường là một cơ cấu kinh tế giúp cho con người có thể gặp gỡ nhau, vì họ là các chủ thể của một nền kinh tế, thành phần sử dụng những hợp đồng khế ước để điều hành các mối liên hệ của họ, khi họ trao đổi các sản vật cùng các dịch vụ có giá trị tương đương giữa chúng, để thỏa đáng những nhu cầu của họ và những gì họ mong ước. Thị trường tùy thuộc vào những nguyên tắc được gọi là công lý giao hoán, thứ công lý điều hợp những mối liên hệ trao ban và nhận lãnh giữa đôi bên kinh doanh. Thế nhưng giáo huấn về xã hội của Giáo Hội đã không ngừng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thứ công lý phân bổ và thứ công lý xã hội đối với nền kinh tế thị trường, chẳng những vì nó thuộc về một môi trường xã hội và chính trị rộng lớn, mà còn vì mối nối kết của những liên hệ chung quanh nền kinh tế thị trường này. Thật vậy, nếu thị trường được quản trị nguyên bởi nguyên tắc tương đương về giá trị của các sản vật trao đổi, thì nó không thể mang lại mối liên kết xã hội cần thiết để hành sử một cách tốt đẹp. Việc thiếu vắng những hình thức nội tại của tình đoàn kết và lòng tin tưởng lẫn nhau, thì thị trường không thể nào hoàn toàn chu trọn phận sự kinh tế thích đáng của nó. Và ngày nay chính vì niềm tin tưởng này không còn nữa, và việc mất mát niềm tin tưởng là một mất mát trầm trọng. Thật là đúng lúc thay khi Đức Phaolô VI, trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc, đã nhấn mạnh rằng tự hệ thống kinh tế có thể mang lại lợi ích từ việc thực hành công lý cách bao rộng, vì kẻ đầu tiên được lợi từ việc phát triển của các xứ sở nghèo là những xứ sở giầu có [90]. Theo vị Giáo Hoàng này thì đây không phải chỉ là vấn đề sửa sai những rối loạn chức năng nhờ được trợ giúp. Không được coi người nghèo như là một “gánh nặng” [91], nhưng là một nguồn tài nguyên, thậm chí theo những quan điểm thuần túy kinh tế. Tuy nhiên vẫn là những gì sai lầm khi chủ trương rằng nền kinh tế thị trường cần đến một thứ nhu cầu sẵn có cho một số hạn ngạch của nghèo đói và kém phát triển để đạt được những hoạt động tốt nhất. Chính ở nơi các lợi ích của thị trường trong việc phát động sự giải phóng, nhưng để làm điều đó một cách hiệu quả, mà nó không thể chỉ dựa trên chính nó, vì nó không thể tự mình sản xuất ra một cái gì đó ngoài tầm tay của nó. Nó phải rút ra những năng lượng luân lý của nó từ các chủ thể khác có khả năng tạo ra chúng.
36. Hoạt động kinh tế không thể giải quyết tất cả các vấn đề xã hội bằng các ứng dụng đơn giản của lý lẽ thương mại. Hoạt động này cần phải được chỉ đạo để theo đuổi lợi ích chung là những gì đặc biệt là các cộng đồng chính trị cũng phải chịu trách nhiệm. Do đó, nó phải nhớ rằng sự mất cân bằng trầm trọng xuất hiện khi hoạt động kinh tế là hoạt động được hình thành chỉ như là một động cơ để tạo ra sự giàu có, bị tách khỏi hoạt động chính trị là hoạt động được hình thành như là một phương tiện để theo đuổi công lý bằng việc tái phân phối.
Giáo Hội luôn chủ trương rằng hoạt động kinh tế không được coi như là những gì chống lại xã hội. Tự mình và bởi mình, thị trường không là và không được trở thành nơi cho kẻ mạnh đàn áp người yếu. Xã hội không cần phải bảo vệ mình khỏi thị trường, như thể vấn đề phát triển của thành phần yếu kém trên thực tế bao gồm tình trạng chết chóc nơi những mối liên hệ chân thực của con người. Phải công nhận rằng thị trường có thể trở thành một quyền lực tiêu cực, không phải tự bản chất của nó như vậy, nhưng vì một ý hệ nào đó khiến nó trở nên như thế. Cần phải nhớ rằng thị trường không hiện hữu ở một trạng thái thuần túy. Nó được làm nên bởi những cấu thể văn hóa định hình nó và cống hiến cho nó hướng đi. Kinh tế và tài chính, như những thứ dụng cụ, có thể được sử dụng một cách tai hại khi những thứ này khởi đầu được tác động bởi những mục đích thuần vị kỷ. Các thứ dụng cụ tự chúng là tốt bởi thế ccó thể biến thành những dụng cụ tai hại. Thế nhưng chính trí khôn mờ tối của con người là những gì sản xuất ra những hậu quả ấy chứ không phải tự chính dụng cụ. Thế nên không phải là vấn đề dụng cụ là những gì cần phải quan tâm mà là cá nhân con người, lương tâm luân lý của họ và trách nhiệm bản thân cùng xã hội của họ.
Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội chủ trương rằng các mối liên hệ thân hữu chân thực của con người, tình đoàn kết và sự hỗ tương cũng có thể được hành sử trong hoạt động kinh tế, chứ không phải chỉ ở ngoài nó hay “theo” nó. Lãnh vực kinh tế không phải là lãnh vực trung dung về đạo lý, cũng không phải tự mình là những gì phi nhân bản và chông lại xã hội. Nó thuộc về và là một phần của hoạt động con người, và chính vì nó là những gì nhân bản, nó cần phải được cấu tạo và quản trị một cách đạo đức.
Thách đố cả thể trước mắt chúng ta, một thách đố nổi bật bởi những vấn đề về phát triển trong kỷ nguyên toàn cầu này và càng trở thành khẩn trương bởi cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính, đó là chứng tỏ cho thấy, trong ý nghĩ cũng như tác hành, chẳng những các nguyên tắc truyền thống về đạo lý xã hội như tính chất thanh liêm, chân thực và trách nhiêm là những gì không thể coi thường hay bị suy yếu đi, mà còn trong cả những liên hệ về thương mại, nguyên tắc nhưng không và lý lẽ ban tặng như là một thể hiện của tình huynh đệ cũng có thể và cần phải có chỗ đứng của mình trong hoạt động bình thường của kinh tế nữa. Đây là một đòi hỏi nhân bản vào lúc này đây, thế nhưng nó cũng là những gì lý lẽ của kinh tế đòi hỏi nữa. Nó là một đòi hỏi cả của bác ái và sự thật.
37. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng chủ trương rằng cần phải áp dụng công lý cho hết mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì điều này bao giờ cũng liên quan tới con người và các nhu cầu của họ. Việc định vị các thứ nguồn lợi, vấn đề tài chính, việc sản xuất, việc tiêu thụ cùng với tất cả mọi giai đoạn khác nơi chu kỳ của kinh tế đều chắc chắn bao hàm những gì về luân lý. Thế nên hết mọi quyết định về kinh tế đều có hậu quả về luân lý. Các khoa học về xã hội và chiều hướng của nền kinh tế hiện đại cũng nhắm đến cùng một kết luận ấy. Có thể vào một lúc nào đó người ta cho rằng trước hết việc kiến tạo nên sự giầu có có thể được trao phó cho nền kinh tế, và rồi công việc phân phối cái giầu có này có thể được ủy thác cho chính trị. Ngày nay vấn đề trở nên khó khăn hơn, ở chỗ hoạt động kinh tế không còn quanh quẩn trong những hạn hẹp về địa dư nữa, trong khi đó thẩm quyền của các chính phủ tiếp tục vẫn chính yếu có tính cách địa phương. Vì những qui tắc về công lý cần phải được tôn trọng từ đầu, trong khi tiến trình kinh tế triển khai, chứ không phải sau đó hay ngẫu nhiên tình cờ xẩy ra. Cũng cần phải tạo chỗ nơi thị trường cho hoạt động kinh tế được thi hành bởi những chủ thể muốn tự do tác hành theo các nguyên tắc không phải là những nguyên tắc thuần lợi lộc, mà không tác hại tới tiến trình sản xuất có giá trị về kinh tế. Nhiều thực thể về kinh tế đang rút tỉa được nguồn gốc của mình từ những khởi động tôn giáo và thế tục cho thấy rằng đây là những gì cụ thể khả dĩ.Trong một kỷ nguyên toàn cầu này, nền kinh tế bị chi phối bởi những kiểu mẫu cạnh tranh dính liền với các nền văn hóa rất khác nhau. Những hình thức khác nhau của tổ chức kinh doanh kinh tế xuất hiện những kiểu mẫu cạnh tranh này tìm thấy điểm gặp gỡ chính yếu của mình nơi thứ công lý giao hoán. Sinh hoạt kinh tế thật sự đòi hỏi những thứ hợp đồng khế ước, để điều hành những mối liên hệ trao đổi giữa những sản vật có giá trị tương đương. Thế nhưng, nó cũng cần đến những luật lệ chính đáng và các hình thức tái phân phối bởi chính trị, mà hơn thế nữa, nó cần hoạt động tỏa ra một tinh thần ban tặng nữa. Nền kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu này dường như ưa thích cái lý lẽ trước, cái lý lẽ của sự trao đổi theo hợp đồng, thế nhưng, trực tiếp hay gián tiếp, nó cũng cho thấy nó cần đến hai lý lẽ khác nữa, đó là lý lẽ chính trị và lý lẽ của việc ban tặng nhưng không.
38. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolô II đã chú ý tới vấn đề này trong Thông Điệp Bách Niên của ngài, khi ngài nói về nhu cầu cần có một hệ thống có 3 chủ thể, đó là thị trường, Chính Quyền và xã hội dân sự [92]. Ngài đã thấy xã hội dân sự như là một môi trường tự nhiên nhất cho một nền kinh tế của sự nhưng không và tình huynh đệ, thế nhưng ngài không muốn xã hội dân sự này không có được một chỗ đứng ở hai môi trường kia. Ngày nay chúng ta có thể nói rằng sinh hoạt kinh tế cần phải được hiểu như là một hiện tượng có nhiều tầng lớp: ở hết mọi tầng lớp này, tùy theo các mức độ khác nhau và các đường lối xứng với từng tầng lớp một, khía cạnh về tính hỗ tương huynh đệ cần phải hiện hữu. Trong kỷ nguyên toàn cầu này, hoạt động kinh tế không thể không quan tâm tới tính chất nhưng không là tình chất nuôi dưỡng và làm truyền lan tình đoàn kết và trách nhiệm đối với công lý và công ích nơi những thành phần đóng các vai trò kinh tế khác nhau. Nó rõ ràng là một hình thức chuyên biệt và sâu xa của nền dân chủ về kinh tế. Tình đoàn kết trước hết và trên hết là cảm thức trách nhiệm về phía của mọi người liên quan tới mọi người [93], và vì thế nó không thể chỉ hoàn toàn ủy thác cho Chính Quyền. Trong quá khứ cho dù có thể lập luận rằng công lý phải có trước và sau đó mới tới tính chất nhưng không, như là một thứ bổ khuyết, ngày nay hiển nhiên cho thấy rằng nếu thiếu tính chất nhưng không thì trước hết không có công lý. Bởi vậy, điều cần thiết ở đây là một thứ công trường cho phép tự do hoạt động, với điều kiện có những cơ hội tương đương, có những thứ kinh doanh theo đuổi những mục đích khác nhau về tổ chức. Cùng với việc kinh doanh tư riêng tìm kiếm lợi lộc và những kiểu mẫu khác nhau của việc kinh doanh công cộng, cần phải có chỗ cho những thực thể về thương mại đặt nền tảng trên những nguyên tắc có tính cách hỗ tương và theo đuổi những mục đích về xã hội để hình thành và thể hiện chính mình. Chính từ cuộc gặp gỡ nhau này của chúng nơi công trường như thế mà người ta có thể mong đợi những hình thức pha trộn xẩy ra nơi tác hành thương mại và vì thế chú trọng tới những đường lối văn minh hóa kinh tế. Trong trường hợp này, bác ái trong chân lý đòi hỏi là cần phải cung cấp hình thể và cấu trúc cho những loại khởi động về kinh tế, những khởi động mà, không loại trừ lợi lộc, nhắm tới một mục tiêu cao cả hơn là thứ thuần lý lẽ của việc trao đổi những gì tương đương với nhau, trao đổi lợi lộc như nó chính là cùng đích vậy.
39. Đức Phaolô VI trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc đã kêu gọi việc kiến tạo nên một mẫu kinh tế thị trường có khả năng bao gồm trong phạm vi của mình tất cả mọi dân tộc chứ không nguyên các dân khá giả. Ngài đã kêu gọi hãy thực hiện các nỗ lực trong việc xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người, một thế giới là nơi “tất cả mọi người đều có thể trao ban và nhận lãnh, chứ không phải là một nhóm nào đạt được tiến bộ bằng giá phải trả của nhóm kia” [94]. Theo đó, ngài đã áp dụng ở tầm cấp toàn cầu những minh thức và các ước vọng trong Thông Điệp Tân Sự – Rerum Novarum, một văn kiện được viết vào thời điểm cái ý nghĩ sau đây mới được dự phóng – dường như trước thời điểm của mình – như thành quả của một cuộc Cách Mạng về Kỹ Nghệ, đó là lãnh vực dân sự, đối với việc tự điều hành của mình, cũng cần đến việc can thiệp của Chính Quyền về vấn đề tái phân phối. Ngày nay quan niệm này chẳng những đã bị đe dọa bởi đường lối cởi mở của các thị trường và các xã hội, mà còn hiển nhiên cho thấy nó không đủ thỏa đáng những đòi hỏi của một nền kinh tế hoàn toàn nhân bản. Theo nhãn quan của mình về con người và xã hội, những gì giáo huấn về xã hội của Giáo Hội bao giờ cũng duy trì ngày nay đang được chứng thực bởi các động lực của việc toàn cầu hóa.
Khi cả lý lẽ về thị trường và lý lẽ về Chính Quyền theo cùng một chiều hướng là mỗi một bên vẫn cứ tiếp tục hành sử một thứ độc quyền nơi lãnh vực ảnh hưởng riêng biệt của mình, thì về lâu về dài sẽ bị mất mát đi rất nhiều, ở chỗ, tình đoàn kết trong các mối liên hệ giữa thành phần công dân, việc tham dự và gắn bó, những hành động nhưng không, tất cả đều tương phản với việc trao ban để chiếm đạt (thứ lý lẽ của trao đổi) và việc trao ban theo phận vụ (lý lẽ của trách nhiệm chung theo luật lệ của Chính Quyền). Để đánh bại tình trạng kém phát triển, cần phải thực hiện việc chẳng những cải tiến những giao dịch trao đổi và vun trồng những cấu trúc an sinh chung, nhưng nhất là vấn đề từ từ gia tăng việc cởi mở, trong một bối cảnh thế giới, đối với các hình thức của hoạt động kinh tế được đánh dấu bằng những gì là nhưng không và hiệp thông. Thứ kiểu mẫu chuyên nhất Nhà Nước kiêm thị trường có tính cách song phương là những gì làm soi mòn xã hội, vì các hình thức kinh tế đặt trên tình đoàn kết là những gì xây đắp xã hội, một tình đoàn kết cảm thấy tự nhiên như ở nhà nơi xã hội dân sự mà không bị hạn chế vào xã hội dân sự này. Cái thị trường có tính cách nhưng không này không hiện hữu, và những thái độ nhưng không không thể được luật lệ thiết lập. Tuy nhiên, cả thị trường và chính trị đều cần đến những cá nhân cởi mở trước việc trao tặng hỗ tương.
40. Cảnh tượng của nền kinh tế quốc tế ngày nay, một nền kinh tế được đánh dấu bằng những sai lệch và thất bại trầm trọng, đòi phải có một đường lối hết sức mới mẻ của việc hiểu biết vấn đề kinh doanh thương mại. Những kiểu mẫu cũ đang biến đi, nhưng những kiểu mẫu mới hứa hẹn đang xuất hiện ở chân trời. Chắc chắn một điều đó là một trong những nguy cơ lớn nhất đối với các thứ thương mại là chúng hầu như hoàn toàn có thể đáp ứng cho thành phần đầu tư của mình, bởi thế hạn chế giá trị về xã hội của chúng. Vì vấn đề phát triển của chúng về tầm cấp cũng như vì nhu cầu cần phải thêm vốn liếng hơn nữa, mà càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các ngành kinh doanh thương mại nằm ở trong tay của một vị giám đốc vững chắc, người cảm thấy hữu trách dài hạn, chứ không chỉ ngắn hạn, đối với việc sinh hoạt cùng với các thành quả của tổ chức kinh doanh mình, và càng ngày càng trở nên hiếm hoi đối với các thứ ngành thương mại lệ thuộc vào một khu vực duy nhất. Ngoài ra, cái gọi là phụ hợp đồng của tiến trình sản xuất có thể làm yếu kém cảm quan trách nhiệm của tổ chức kinh doanh này đối với thành phần chịu ảnh hưởng – tức là thành phần nhân viên, các cung cấp viên, các tiêu thụ viên, môi trường tự nhiên và xã hội bao rộng – mà thiên về thành phần được chia phần, thành phần không thắt buộc với một vùng địa dư đặc biệt này và vì thế là thành phần được đặc biệt hoan hưởng việc di động. Thị trường vốn liếng quốc tế ngày nay đang cống hiến nhiều tự do hoạt động. Tuy nhiên, cũng đang gia tăng ý thức về nhu cầu cần phải có trách nhiệm xã hội hơn nữa về phía việc thương mại. Ngay cả những quan tâm về đạo lý là những gì đang có vấn đề tranh cải liên quan tới trách nhiệm xã hội của thế giới tổ hợp cũng không phải tất cả đều khả chấp theo quan điểm giáo huấn về xã hội của Giáo Hội, tuy nhiên, đang gia tăng một niềm xác tín là việc quản trị thương mại không thể chỉ tỏ ra quan tâm tới những lợi ích của thành phần sở hữu chủ, mà còn phải lãnh trách nhiệm đối với tất cả mọi thành phần chịu ảnh hưởng khác nữa, thành phần góp phần vào việc sinh hoạt của thương mại: như các nhân viên, các thân chủ, các cung cấp viên cho những yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng tham vấn. Trong những năm gần đây, một loại quản trị viên toàn cầu mới xuất hiện, thành phần thường chỉ đáp ứng đối với những ai chia phần ở chỗ nói chung có những quĩ ẩn danh là những gì thực tế quyết định thù lao của họ. Thế nhưng, ngược lại, nhiều quản trị viên nhìn xa trông rộng ngày nay đang càng ngày càng ý thức về những thứ liên hệ sâu xa giữa việc kinh doanh của họ với địa hạt hay những địa hạt hoạt động của mình. Đức Phaolô VI đã kêu mời dân chúng hãy nghiêm chỉnh chú ý tới sự tàn hại có thể xẩy đến cho xứ sở nhà của người ta nơi việc chuyển ra nước ngoài vốn liếng hoàn toàn vì lợi ích riêng tư [95]. Đức Gioan Phaolô II dạy rằng việc đầu tư bao giờ cũng có tính cách luân lý cũng như kinh tế [96]. Tất cả những điều này – cần phải nhấn mạnh là – ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm, mặc dù sự kiện thị trường vốn liếng đã được tự do rất nhiều, và ý nghĩ tân tiến về kỹ thuật có thể cho thấy rằng việc đầu tư chỉ thuần túy là một tác động về kỹ thuật, chứ không phải là một tác động về nhân bản và đạo lý. Có lý do để phủ nhận rằng một số lượng vốn liếng nào đó có thể mang lại lợi ích, nếu được đầu tư ở nước ngoài hơn là ở quốc nội. Tuy nhiên, cần phải bảo toàn những đòi hỏi về công lý, khi tỏ ra quan tâm thích đáng tới đường lối sinh lợi cái vốn liếng ấy cùng với tại hại gây ra cho những cá nhân phải gánh chịu nếu cái vốn liếng này không được sử dụng ở nơi nó gặt hại [97]. Những gì cần phải tránh né đó là việc sử dụng đầu cơ tích trữ các nguồn tài chính theo chiều hướng chỉ tìm kiếm lợi lộc ngắn hạn, không lưu ý gì tới khả năng duy trì dài hạn của việc kinh doanh, lợi ích của nó cho nền kinh tế thực sự cùng chú ý tới vấn đề thăng tiến, bằng những đường lối thích hợp và thích đáng, của những khởi động về kinh tế khác trong những xứ sở cần phát triển. Sự thực thì việc xuất cảng những thứ đầu tư và khả năng có thể mang lại lợi ích cho thành phần dân chúng của xứ sở nhận được những thứ đầu tư và khả năng này. Lao cộng và kiến thức về kỹ thuật là một sản vật phổ quát. Tuy nhiên, vấn đề không đúng khi xuất cảng những thứ này hoàn toàn vì muốn đạt được những điều kiện thiện lợi, hay tệ hơn nữa, vì để khai thác, không góp phần vào xã hội địa phương bằng việc giúp mang lại một hệ thống sản xuất và xã hội kiên cường, một yếu tố thiết yếu cho vấn đề phát triển vững chắc.
41. Trong bối cảnh của việc bàn luận này, cần nhận định rằng việc kinh doanh thương mại bao gồm một chuỗi bao rộng các thứ giá trị, trở nên rộng lớn hơn ở mọi lúc. Quyền bá chủ liên tục của kiểu song phương Nhà Nước kiêm thương mại đã khiến chúng ta chỉ quen nghĩ đến một mặt là thành phần lãnh đạo ngành thương mại riêng tư theo chiều hướng tư bản và một mặt là thành phần giám đốc của Nhà Nước. Trên thực tế, vấn đề thương mại cần phải được hiểu một cách liên kết với nhau. Có một số lý do, một thứ siêu kinh tế, nói được là như thế. Hoạt động thương mại có một ý nghĩa nhân bản, trước cả ý nghĩa chuyên môn của nó [98]. Nó hiện diện nơi tất cả mọi công việc, được hiểu như là một hành động riêng tư, một “actus personae” [99], một hành động là lý do tại sao hết mọi công nhân cần phải có cơ hội để thực hiện việc góp phần của mình, với ý thức là một cách nào đó “họ đang làm việc cho ‘chính họ’” [100]. Đức Phaolô đã có lý để dạy rằng “hết mọi người làm việc đều là một hóa công” [101]. Chính vì để đáp ứng cho các nhu cầu và phẩm vị của công nhân, cũng như các nhu cầu của xã hội, mới có những loại kinh doanh thương mại khác nhau, không phải chỉ đơn thuần phân biệt giữa “riêng tư” và “công cộng”. Mỗi loại kinh doanh thương mại này đòi hỏi và thể hiện một khả năng thương mại đặc biệt. Để kiến tạo một nền kinh tế sớm đóng vai trò phục vụ công ích của quốc gia và thế giới, cần phải chú ý tới ý nghĩa bao rộng hơn này của hoạt động thương mại. Nó thiên về việc làm phong phú giữa những loại khác nhau của hoạt động thương mại, bằng việc xoay chuyển các thứ khả năng từ thế giới “vô vị lợi” sang thế giới “vụ lợi” hay ngược lại, từ thế giới công sang xã hội dân sự, từ các nền kinh tế tân tiến sang các quốc gia đang phát triển.
“Thẩm quyền chính trị” cũng bao gồm một loạt bao rộng các thứ giá trị, những thứ giá trị không được coi thường trong tiến trình kiến tạo nên một lãnh vực mới của vấn đề sản xuất về kinh tế, một vấn đề sản xuất hữu trách và nhân bản về xã hội theo cấp độ. Và trong việc vun trồng các hình thức khác nhau của hoạt động thương mại ở tầm câá toàn cầu, chúng ta cũng cần phải cổ võ một thứ thẩm quyền chính trị phân tán, có công hiệu ở những mức độ khác nhau. Nền kinh tế hội nhập ngày nay không làm cho vai trò của Nhà Nước trở thành dư thừa, trái lại, nó ủy thác cho các chính quyền việc hợp tác với nhau nhiều hơn nữa. Cả sự khôn ngoan lẫn thận trọng đều cho thấy rằng đừng quá cứng ngắc trong vấn đề tuyên bố về việc chuyển nhượng của Nhà Nước. Về vấn đề giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, vai trò của Nhà Nước dường như gia tăng hơn, khi nó lấy lại nhiều quyền năng của mình. Ngoài ra, ở một số quốc gia, việc kiến trúc và tái kiến trúc của Nhà Nước vẫn là một yếu tố chính yếu trong việc phát triển của những quốc gia ấy. Việc tập trung vào vấn đề trợ giúp quốc tế, theo dự án của tình đoàn kết để giải quyết các vấn đề kinh tế ngày nay, cần phải củng cố các hệ thống cơ cấu, pháp lý và quản trị ở những xứ sở chưa hoàn toàn hoan hưởng những thứ sản vật ấy. Song song với việc trợ giúp về kinh tế, cần phải có những trợ giúp hướng tới việc củng cố những bảo đảm thích đáng với State of law, tức là với một hệ thống của lãnh vực công cộng cùng với hình phạt hiệu lực tỏ ra tôn trọng các thứ nhân quyền, tôn trọng những tổ chức thực sự dân chủ. Nhà Nước không cần có những đặc tính đồng nhất ở mọi nơi: việc nâng đỡ nhắm đến chỗ củng cố các hệ thống tổ chức yếu kém có thể dễ dàng được kèm theo bởi việc phát triển của những vai trò chính trị khác, có một bản chất văn hóa, xã hội, lãnh thổ và tôn giáo, song song với Nhà Nước. Việc ăn khớp với nhau của thẩm quyền chính trị ở những tầm cấp địa phương, quốc gia và quốc tế là một trong những đường lối hay nhất trong việc cống hiến hướng đi của tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế. Nó cũng là đường lối để bảo đảm rằng nó không thực sự làm tiêu hao đi các nền tảng của nền dân chủ.
42. Đôi khi vấn đề toàn cầu hóa được thấy một cách định mệnh tính, như thể các động lực liên quan tới nó là sản phẩm của những lực lượng bâng quơ vô danh hay là những cấu trúc không lệ thuộc vào ý muốn của con người [102]. Về vấn đề này nên nhớ rằng nếu việc toàn cầu hóa thực sự cần được hiểu như là một tiến trình kinh tế xã hội, thì đây không phải là chiều kích duy nhất của nó. Ở bên dưới cái tiến trình hiển hiện hơn ấy thí chính nhân loại lại đang càng ngày càng trở nên tương liên hơn nữa; nó được làm nên bởi các cá nhân con người và chư dân là những thành phần nhận được những thiện ích và phát triển được cống hiến bởi tiến trình ấy [103], khi họ nhận lãnh trách nhiệm của mình một cách cá thể cũng như tổng thể. Việc phân chia ranh giới không phải chỉ là một sự kiện về vật chất: nó cũng là một biến cố về văn hóa ở cả căn nguyên của nó lẫn tác dụng của nó. Nếu vấn đề toàn cầu hóa được nhìn theo một quan điểm định thuyết thì qui chuẩn được dùng để thẩm lượng và hướng dẫn nó không còn nữa. Như là một thực tại nhân bản, nó là sản phẩm của các khuynh hướng khác nhau về văn hóa, những khuynh hướng cần phải được tùy thuộc vào một tiến trình của sự nhận thức. Sự thật về vấn đề toàn cầu hóa như là một tiến trình và tiêu chuẩn về đạo lý căn bản của nó là những gì được cống hiến cho từ mối hiệp nhất của gia đình nhân loại cùng với việc phát triển của gia đình này hướng tới những gì thiện hảo. Bởi thế cần phải bền bỉ dấn thân trong việc cổ võ một tiến trình hội nhập toàn cầu hướng về siêu việt thể lấy căn bản là con người và hướng về cộng đồng.
Bất chấp một số những yếu tổ cấu trúc của mình, những yếu tố không được chối bỏ cũng như không được phóng đại, “vấn đề toàn cầu hóa, trước hết, không tốt cũng chẳng xấu. Nó sẽ là những gì con người sử dụng nó” [104]. Chúng ta không được là thành phần nạn nhân của nó, trái lại, là những chủ đạo viên của nó, tác hành theo ánh sáng của lý trí trong bác ái và chân lý. Việc mù quáng chống đối sẽ là một thái độ lầm lẫn và theo thành kiến, không thể nhận thấy các khía cạnh tích cực của tiến trình này, mà hậu quả nguy hiểm đó là mất đi cơ hội trong việc lợi dụng nhiều cơ hội của nó đối với việc phát triển. Những tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và hướng dẫn cách thích đáng, là những gì hướng tới một tiềm năng chưa hề thấy của việc tái phân phối một cách sâu rộng sự phong phú ở tầm cấp toàn cầu; tuy nhiên, nếu được hướng dẫn một cách tai hại thì chúng có thể dẫn đến tình trạng gia tăng nghèo khổ và chênh lệch, và thậm chí có thể gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu. Cần phải điều chỉnh những thứ trục trặc, mà một số những trục trặc này có tính cách trầm trọng, đang gây ra những thứ chia rẽ mới giữa các dân tộc và trong các dân tộc, cũng như cần phải bảo đảm là việc tái phân phối sự phong phú không xẩy ra bằng việc tái phân phối hay gia tăng tình trạng nghèo khổ: một thứ nguy hiểm thực sự nếu tình hình hiện nay bị quản trị một cách tệ hại. Qua một thời gian dài người ta nghĩ rằng các dân tộc nghèo khổ cần phải ở nguyên một chỗ giai đoạn phát triển và bằng lòng lãnh nhận trợ giúp nhân đạo từ các dân tộc phát triển. Đức Phaolô đã mãnh liệt chống lại tâm thức này trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc. Ngày nay, những nguồn lợi về vật chất sẵn có cho việc phục hồi các dân tộc này khỏi cảnh nghèo khổ đang có khả năng nhiều hơn trước đây, thế nhưng họ phần lớn lại rơi vào tay của dân chúng thuộc các xứ sở phát triển, thành phần được hưởng lợi hơn từ việc giải phóng hóa đã xẩy ra nơi việc di động về vốn liếng và lao công. Việc lan truyền khắp thế giới những hình thức thịnh đạt, bởi thế, không được cố thủ bằng những dự án qui kỷ, bảo vệ hay phục vụ những lợi lộc riêng tư. Thật vậy, việc tham gia của các xứ sở đang lên hay đang phát triển là những gì giúp chúng ta có thể giải quyết khá hơn cuộc khủng hoảng ngày nay. Việc chuyển giao được chất chứa nơi tiến trình toàn cầu hóa cho thấy những khó khăn và nguy hiểm lớn lao là những gì chỉ có thể thắng vượt nếu chúng ta có được cái tinh thần nhân loại học và đạo lý học cốt yếu điều hướng vấn đề toàn cầu hóa tới mục tiêu nhân bản hóa của tình đoàn kết. Tiếc thay, tinh thần này thường bị áp đảo hay đè nén bởi những quan tâm về đạo lý và văn hóa có tính chất vị kỷ và thực dụng. Việc toàn cầu hóa là một hiện tượng đa diện và phức tạp cần phải nắm bắt về tính chất đa diện và hiệp nhất của tất cả mọi khía cạnh khác nhau, bao gồm cả chiều kích thần học. Nhờ đó mới có thể cảm nghiệm và lèo lái việc toàn cầu hóa của nhân loại một cách hữu lý, một cách hiệp thông và chia sẻ các thứ sản vật.
Chương Bốn
Việc Phát Triển của Con Người, Các Quyền Lợi và Nghĩa Vụ, Môi Trường
43. “Thực tại của tình đoàn kết nhân loại, một tình đoàn kết bổ ích cho chúng ta, cũng áp đặt một nhiệm vụ nữa” [105]. Ngày nay nhiều người cho rằng họ không nợ nần gì với ai hết, ngoại trừ chính bản thân họ. Họ chỉ quan tâm tới các thứ quyền lợi của họ, và họ thường rất khó lòng đảm nhận trách nhiệm cho việc phát triển toàn vẹn của riêng họ cũng như của người khác. Thế nên cần phải kêu gọi thực hiện một cuộc phản tỉnh mới về vấn đề làm sao những quyền lợi bao gồm cả các nhiệm vụ, để những quyền lợi ấy không trở thành một thứ thuần quyền phép [106]. Ngày nay chúng ta đang chứng kiến thấy một thứ bất nhất trầm trọng. Một đàng là những yêu cầu về các thứ quyền lợi được cho là của mình, những thứ quyền lợi độc đoán và tự bản chất không thiết yếu, được kèm theo bằng việc đòi hỏi là chúng cần phải được công nhận và cổ võ bởi các cơ cấu công cộng, trong khi đó, mặt khác, các thứ quyền lợi tối thiểu và căn bản vẫn không được công nhận và bị vi phạm nhiều trên thế giới [107]. Người ta thường thấy có sự liên kết giữa những đòi hỏi về một “thứ quyền thái quá”, thậm chí tội lỗi và đồi trụy, trong những xã hội thịnh đạt, với tình trạng thiếu thốn lương thực, nước uống, giáo dục căn bản và việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu ở những miền đất của thế giới kém phát triển cũng như ở các vùng ngoại ô thuộc các trung tâm đô thị lớn. Cái liên kết này là ở chỗ: những thứ quyền lợi cá nhân, khi bị tách khỏi một phạm trù của các thứ nhiệm vụ là những gì mang lại cho chúng trọn vẹn ý nghĩa, có thể trở thành hoang dại, dẫn tới một thứ leo thang về những đòi hỏi thực sự là vô hạn và bừa bãi. Vấn đề quá nhấn mạnh đến các thứ quyền lợi đang dẫn tới chỗ gạt bỏ ra ngoài các thứ nhiệm vụ. Những nhiệm vụ đặt giới hạn cho các quyền lợi, vì chúng hướng cái nội dung về nhân loại học và đạo đức học là những gì quyền lợi thuộc về, nhờ đó bảo đảm rằng chúng không trở thành một thứ quyền phép. Như thế các nhiệm vụ là những gì củng cố các quyền lợi và kêu gọi bênh vực cùng cổ võ các quyền lợi này như là một công việc cần phải được thực hiện để phục vụ công ích. Bằng không, nếu cái nền tảng duy nhất này của quyền lợi con người bị hội đồng công dân cân nhắc lại thì các thứ quyền lợi ấy có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, và vì thế nhiệm vụ tôn trọng và thực thi chúng bị lu mờ đi nơi ý thức chung. Các chính quyền cùng các cơ cấu quốc tế bấy giờ có thể không thấy được nữa tính chất khách quan và “bất khả vi phạm” của các quyền lợi. Khi điều ấy xẩy ra, việc phát triển đích thực của các dân tộc sẽ gặp nguy hiểm [108]. Đường lối suy nghĩ và tác hành như thế là những gì gây tổn thương cho thẩm quyền của các tổ chức quốc tế, nhất là trước mắt của những xứ sở cần phát triển nhất. Thật vậy, những xứ sở cần phát triển nhất này đòi hỏi là cộng đồng quốc tế hãy lãnh nhận nhiệm vụ giúp cho những xứ sở này trở thành “những thủ công viên cho định mệnh của họ” [109], tức là, lãnh nhận các nhiệm vụ của họ. Việc chia sẻ về các nhiệm vụ hỗ tương này là một kích thích tác hành mãnh liệt hơn là việc chỉ đòi hỏi quyền lợi.
44. Ý niệm về quyền lợi và nhiệm vụ trong vấn đề phát triển cũng cần phải được chú ý tới các vấn đề liên quan tới tình trạng phát triển về dân số. Đây là một khía cạnh rất quan trọng của việc phát triển đích thực, vì nó liên quan tới những thứ giá trị bất khả coi thường của sự sống và gia đình [110]. Việc coi vấn đề gia tăng dân số như là nguyên nhân căn bản cho tình trạng kém phát triển là lầm lẫn, thậm chí theo cả quan điểm kinh tế đi nữa. Chỉ cần xét tới, một mặt là tình trạng suy giảm đáng kể nơi mức tử vong của hài nhi và việc gia tăng trung bình tuổi thọ nơi các xứ sở phát triển về kinh tế, và một mặt là những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng xẩy ra nơi các xã hội đang được ghi nhận về tình trạng suy giảm đến độ báo động nơi mức sinh nở của họ. Cần phải hiển nhiên tỏ ra chú ý tới vấn đề truyền sinh một cách hữu trách nữa, một vấn đề, cùng với những vấn đề khác, đang góp phần tích cực để thực hiện việc phát triển toàn vẹn con người. Trong mối quan tâm của mình về việc đích thực phát triển con người, Giáo Hội kêu gọi họ hãy hoàn toàn tôn trọng các thứ giá trị nhân bản trong việc thực hiện tính dục của mình. Tính dục không thể biến thành những gì là thuần túy khoái lạc hay ăn chơi, việc giáo dục tình dục không thể biến thành một thứ hướng dẫn về kỹ thuật chỉ nhắm tới chỗ bảo vệ thành phần thích thú cho khỏi chứng bệnh khả dĩ hay khỏi bị “nguy cơ” sinh đẻ. Điều này sẽ làm suy yếu và coi thường ý nghĩa sâu xa của tính dục, một ý nghĩa cần phải được công nhận và chiếm hữu cách hữu trách chẳng những bởi cá nhân con người mà còn bởi cộng đồng nữa. Thật là vô trách nhiệm khi coi tính dục chỉ là một nguồn khoái lạc, và vì thế điều hành nó bằng những biện pháp bắt buộc ngừa thai. Trong trường hợp nào đi nữa cũng cho thấy hiện lên những ý nghĩ hay những chính sách duy vật, và con người cuối cùng bị rơi vào những hình thức vi phạm khác nhau. Để chống lại các thứ chính sách như thế, cần phải bênh vực thẩm quyền căn bản của gia đình nơi lãnh vực tính dục [111], chống lại Chính Quyền cùng với những chính sách hạn chế của nó, và để bảo đảm rằng cha mẹ được trang bị một cách thích hợp để lãnh nhận các trách nhiệm của họ.
Việc cởi mở một cách hữu trách về luân lý đối với sự sống là những gì tiêu biểu cho một nguồn phong phú về xã hội và kinh tế. Các quốc gia đông dân đã có thể vươn lên khỏi cảnh nghèo khổ là nhờ không ít ở tầm mức dân số của họ cùng với các tài năng của dân họ. Đàng khác, các quốc gia giầu thịnh trước đây hiện đang trải qua một giai đoạn bấp bênh, và ở trong một số trường hợp còn suy giảm, chính vì tình trạng giảm số sinh của họ; điều này đã từng trở thành một vấn đề trầm trọng cho các xã hội thật giầu thịnh. Tình trạng suy giảm nơi vấn đề sinh sản, suy giảm có những lúc ở bên dưới cả chỗ được gọi là “mức thay thế”, cũng gây căng thẳng cho hệ thống an sinh xã hội, gia tăng tốn phí cho các hệ thống này, thâm thủng vào những thứ tiết kiệm và vì thế các nguồn tài chính cần đến việc đầu tư, giảm bớt tính chất sẵn có của thành phần lao công chuyên nghiệp, và hạn hẹp hóa “cái quĩ não bộ” là nơi các quốc gia có thể nhờ đó thấy được các nhu cầu của mình. Ngoài ra, những gia đình bé nhỏ và có những lúc bé tí đang có nguy cơ bị suy yếu về những mối liên hệ xã hội, và không thể bảo đảm được những hình thức hiệu nghiệm của tình đoàn kết. Những trường hợp này là triệu chứng cho thấy không đủ tin tưởng vào tương lai và kiệt quệ về luân lý. Bởi thế, một lần nữa nó trở thành một nhu cầu về xã hội và thậm chí về kinh tế trong việc giữ lấy cho các thế hệ tương lai vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình, và sự kiện là các cơ cấu này đáp ứng những nhu cầu và phẩm giá sâu xa nhất của con người. Theo chiều hướng này, các Chính Quyền được kêu gọi là hãy ban hành các chính sách cổ võ tính chất tâm điểm và toàn vẹn của gia đình được đặt trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, một tế bào căn bản sống còn của xã hội [112], và lãnh trách nhiệm đối với các nhu cầu về kinh tế và tài chính, trong khi vẫn tôn trọng tính chất liên hệ thiết yếu của nó.
45. Việc nỗ lực để đáp ứng những nhu cầu sâu xa về luân lý của con người cũng gây ra những âm dội quan trọng và thiện ích ở lãnh vực kinh tế. Kinh tế cần đạo lý để hoạt động cho đúng đắn – không phải là bất cứ thứ đạo lý nào, mà là một thứ đạo lý lấy con người làm chính. Ngày nay chúng ta nghe nói nhiều về đạo lý nơi thế giới kinh tế, tài chính và thương mại. Các trung tâm nghiên cứu và các hội nghị chuyên đề về đạo lý thương mại đang gia tăng; hệ thống về chứng chỉ đạo lý đang lan tràn khắp thế giới phát triển như một phần thuộc phong trào của các ý nghĩ liên hệ với những thứ trách nhiệm của thương mại đối với xã hội. Các ngân hàng đang đề ra các trương mục “có tính cách đạo lý” và các quĩ đầu tư. “Việc tài trợ có tính cách đạo lý” là những gì đang được phát triển, nhất là qua thứ tiểu tín dụng, và phổ quát hơn, tiểu tài trợ. Những tiến trình này đáng ca ngợi và đáng được ủng hộ. Những tác dụng tích cực của chúng cũng đang được cảm nghiệm thấy nơi những miền đất kém phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cần phải phát triển một qui chuẩn lành mạnh về việc nhận thức, vì tĩnh từ “đạo lý” có thể bị lạm dụng. Khi tiếng này được sử dụng một cách tổng quát, nó có thể được giải thích bất kỳ ra sao, thậm chí cho đến độ nó bao gồm cả những quyết định và chọn lựa trái với công lý và vấn đề an sinh thực sự của con người.Thật vậy, nhiều thứ lệ thuộc vào hệ thống căn bản của luân lý. Về vấn đề này, giáo huấn về xã hội của Giáo Hội có thể thực hiện một đóng góp đặc biệt, vì giáo huấn này căn cứ vào việc con người được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” (Gen 1:27), một dữ kiện làm xuất phát phẩm giá bất khả vi phạm của con người và giá trị siêu việt của các tiêu chuẩn luân lý tự nhiên. Khi đạo lý về thương mại không quan tâm tới hai trụ cột này, nó chắc chắn có nguy cơ mất đi bản chất đặc thù của mình và trở thành mồi ngon cho các hình thức khai thác; đặc biệt hơn nữa, nó có nguy cơ trở thành quị lụy cho các hệ thống kinh tế và tài chính hiện nay hơn là điều chỉnh những khía cạnh hư hoại về chức năng của chúng. Trong số những điều khác, nó có nguy cơ bị sử dụng để biện minh cho vấn đề tài trợ liên quan tới các dự án thực sự là phi đạo lý. Chữ “đạo lý”, bởi thế, không được sử dụng để thực hiện những thứ phân biệt về ý hệ, như thể cho rằng các khởi động không chính thức được phác họa sẽ không có tính cách đạo lý. Cần phải có những nỗ lực – và thực sự cần phải nói đến điều này – chẳng những để tạo nên những phần hay những đoạn “có tính cách đạo lý” của kinh tế hay của thế giới tài chính, mà còn bảo đảm là toàn thể nền kinh tế – toàn thể vấn đề tài chính – đều có tính cách đạo lý, chứ không phải chỉ là thứ nhãn hiệu bên ngoài, nhưng theo những đòi hỏi nội tại nơi chính bản chất của nó. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội hoàn toàn sáng tỏ về vấn đề này, khi nhắc nhở rằng kinh tế, nơi tất cả mọi lãnh vực của nó, là những gì tạo nên một phần của hoạt động nhân loại [113].
46. Khi chúng ta cứu xét đến những vấn đề liên quan tới mối liên hệ giữa thương mại và khoa đạo đức học, cũng như tới việc tiến hóa đang xẩy ra ở các phương pháp sản xuất, vấn đề ở đây đó là việc phân biệt giá trị theo truyền thống giữa các tổ hợp kiếm lợi và những tổ chức vô vị lợi, không còn hoàn toàn chính đáng với thực tại nữa, hay không còn cống hiến chiều hướng cụ thể cho tương lai nữa. Trong các thập niên gần đây, một lãnh vực trung dung rộng lớn đã xuất hiện giữa hai loại kinh doanh này. Nó được làm nên bởi những tổ hợp truyền thống liên kết với những tổ hợp riêng, những nhóm tổ hợp hướng đến vấn đề an sinh xã hội, và thế giới đa dạng của cái được gọi là “nền kinh tế dân sự” và “nền kinh tế của mối hiệp thông”. Đây không phải chỉ là vấn đề của “khối thứ ba”, mà là một thực tại kết hợp mới bao rộng gồm có những lãnh vực riêng tư và công cộng, một thực tại không loại trừ lợi lộc, nhưng coi lợi lộc như phương tiện để chiếm đạt các mục đích nhân bản và xã hội. Những tổ hợp ấy có phân chia các cổ phần hay chăng, cấu trúc về pháp lý của chúng có tương xứng với những hình thức được thiết lập hay chăng, đều trở thành những gì thứ yếu đối với việc chúng chấp nhận coi lợi lộc như là phương tiện để chiếm đạt mục đích của một thứ thị trường và xã hội nhân bản hơn. Hy vọng những loại kinh doanh mới này sẽ thành công trong việc tìm kiếm một cấu trúc về pháp lý và tài chính thích hợp ở mọi xứ sở. Không tác hại tới tầm quan trọng và những lợi ích về kinh tế và xã hội của những hình thức thương mại truyền thống hơn, chúng lèo lái hệ thống này tới việc chấp nhận rõ ràng và hoàn toàn hơn những nhiệm vụ thuộc về các chủ thể của kinh tế. Và không phải chỉ thế thôi. Chính tính cách đa dạng nơi những hình thức cơ cấu của vấn đề thương mại đang làm xuất hiện một thứ thị trường chẳng những văn minh hơn mà còn cạnh tranh hơn nữa.
47. Cần phải theo đuổi thực hiện việc củng cố những loại thương mại khác nhau, nhất là những loại có khả năng coi lợi lộc như phương tiện để chiếm đạt mục đích của một thị trường và xã hội nhân bản hơn, nơi các xứ sở bị loại trừ hay ở bên lề tầm ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu. Ở những xứ sở ấy, rất cần phải đẩy mạnh những dự án theo chiều hướng phụ trợ, được phác họa và điều hành cách thích hợp, nhắm đến chỗ củng cố những quyền lợi vừa kèm theo cả vấn đề đảm nhận các thứ trách nhiệm tương xứng theo đó. Trong các chương trình phát triển cần phải bảo trì nguyên tắc đặt trong tâm vào con người như là chủ thể có trách nhiệm chính về vấn đề phát triển. Quan tâm chính yếu này cần phải cải tiến các điều kiện sống thực sự của dân chúng ở một miền nào đó, nhờ đó giúp họ có thể thi hành những nhiệm vụ không thể chu toàn bởi cảnh nghèo khổ hiện tại của mình. Mối quan tâm về xã hội không bao giờ được trở thành một thái độ trừu tượng. Những chương trình phát triển, nếu chúng được thích ứng với các hoàn cảnh cá nhân, cần phải được uyển chuyển; và con người được lợi ích bởi đó cần phải trực tiếp tham dự vào việc phác họa và áp dụng chúng. Các thứ tiểu chuẩn được áp dụng cần phải tha thiết với việc phát triển gia tăng theo chiều hướng của tình đoàn kết – nhờ cẩn thận kiểm tra các thành quả – vì không có các thứ giải pháp hiệu lực phổ quát nào hết. Các chương trình được quản trị điều hành trên thực tế đều lệ thuộc rất nhiều vào đường lối của chúng. “Chính các dân tộc có trách nhiệm chính yếu trong việc hoạt động cho việc phát triển của mình. Thế nhưng, họ sẽ không hoàn thành được điều này một cách đơn độc” [114]. Những lời này của Đức Phaolô VI ngày nay lại càng hợp thời hơn bao giờ hết, khi thế giới của chúng ta càng ngày càng trở nên hội nhập hơn. Những động lực của vấn đề liên quan khó có thể là những gì tự động. Những giải pháp cần phải được thận trọng phác họa tương xứng với đời sống cụ thể của dân chúng, những giải pháp được dựa vào một thứ thẩm định khôn ngoan cho từng trường hợp. Song song với những dự án lớn cũng có chỗ cho những dự án nhỏ, nhất là cần tất cả mọi chủ thể của xã hội dân sự, cả những con người theo pháp lý và thể lý, tỏ ra tích cực vận động.
Việc cộng tác quốc tế cần đến dân chúng là thành phần có thể trở thành yếu tố cho tiến trình phát triển kinh tế và nhân bản bằng tình đoàn kết với việc hiện diện của họ, việc trông nom họ, việc huấn luyện họ và tôn trọng họ. Theo quan điểm này, tổ chức quốc tế có thể đặt lại vấn đề về sự hiệu năng thực sự của guồng máy quan lại và quản trị của mình, một guồng máy thường quá ư là tốn phí. Có những lúc xẩy ra trường hợp là những ai nhận lãnh trợ giúp lại trở thành lệ thuộc vào thành phần ra tay cứu trợ, và thành phần nghèo khổ lại phục vụ cho việc kéo dài những thứ quan liêu đắt đỏ là những gì làm tiêu hao đi một cách thái quá tỷ lệ ngân quĩ giành cho việc phát triển. Thế nên hy vọng rằng tất cả mọi cơ quan quốc tế, cũng như các tổ chức ngoài chính quyền, sẽ quyết tâm thực hành việc làm hoàn toàn liêm khiết, bằng việc thông báo cho các cống hiến viên cũng như cho quần chúng về tỷ lệ lợi tức được phân phối cho các chương trình hợp tác, nội dung thật sự của những chương trình đó, và sau hết là việc chi thu tỉ mỉ về chính cơ cấu này.
48. Ngày nay, vấn đề phát triển cũng liên quan chặt chẽ tới cả các nhiệm vụ xuất phát từ mối liên hệ của chúng ta với môi trường thiên nhiên nữa. Môi trường là tặng ân Thiên Chúa ban cho hết mọi người, và trong việc chúng ta sử dụng nó chúng ta có trách nhiệm đối với người nghèo, đối với các thế hệ tương lai cũng như với chung nhân loại. Khi thiên nhiên, bao gồm cả con người, được coi như là những gì thuần túy tình cờ hay tiến hóa định thì cảm quan về trách nhiệm của chúng ta bị yếu kém đi. Nơi thiên nhiên, thành phần tín hữu nhận thấy thành quả tuyệt vời của việc Thiên Chúa sáng tạo, những thành quả chúng ta được sử dụng một cách hữu trách để thỏa đáng các nhu cầu hợp lý của chúng ta, về vật chất hay về những gì khác, miễn là tôn trọng mức cân bằng nội tại của tạo vật. Nếu nhãn quan này bị mất đi, chúng ta sẽ tiến tới chỗ một là coi thiên nhiên như là một thứ cấm kỵ bất khả động chạm, hai là lạm dụng nó. Không một thái độ nào trong hai thái độ này hợp với nhãn quan của Kitô giáo về thiên nhiên là hoa trái của việc Thiên Chúa tạo dựng.
Thiên nhiên là những gì thể hiện dự án của yêu thương và sự thật. Nó có trước chúng ta, và nó được Thiên Chúa ban cho chúng ta như là môi trường cho đời sống của chúng ta. Thiên nhiên nói với chúng ta về Đấng Hóa Công (cf Rm 1:20) cũng như về tình Ngài yêu thương nhân loại. Nó được định liệu để “tái qui hồi” trong Chúa Kitô vào lúc tận cùng thời gian (cf. Eph 1:9-10; Col 1:19-20). Bởi thế nó cũng là một “ơn gọi” [115]. Thiên nhiên ở trong tay của chúng ta không phải như là “một đống phế thải bừa bãi” [116], mà là như một tặng ân của Đấng Hóa Công, Vị đã ban cho nó một trật tự sẵn có, giúp con người có thể rút ra từ nó những ngyyên tắc cần thiết để “canh tác và trông coi nó” (Gen 2:15). Thế nhưng, cũng cần phải nhấn mạnh rằng hoàn toàn ngược lại với việc phát triển khi coi thiên nhiên như là một cái gì đó quan trọng hơn là con người. Chủ trương này dẫn đến những thái độ của chủ nghĩa tân ngoại đạo hay một chủ nghĩa phiếm thần mới – việc cứu độ của con người không thể nào xuất phát từ nguyên thiên nhiên, được hiểu theo ý nghĩa thuần tự nhiên. Cũng cần phải loại trừ chủ trương ngược lại, một chủ trương muốn hoàn toàn làm chủ thiên nhiên bằng kỹ thuật, vì môi trường thiên nhiên không phải chỉ có nguyên chất bị mạo dụng theo sở thích của chúng ta; nó là một công cuộc tuyệt vời của Đấng Hóa Công chất chứa một thứ “văn phạm” cho thấy những mục đích và tiêu chuẩn để khôn ngoan sử dụng nó, chứ không phải để bừa bãi khai thác nó. Ngày nay việc phát triển bị tác hại nhiều chính là do bởi những ý niệm méo mó này. Việc biến thiên nhiên thành một thứ tổng hợp thuần túy những dữ kiện ngẫu nhiên sẽ tiến đến chỗ vi phạm tới môi trường, thậm chí còn khuyến khích các hoạt động không tôn trọng chính bản tính của con người nữa. Bản tính của chúng ta, không phải chỉ được tạo nên bởi vật chất mà còn bởi tinh thần, nhớ đó có được một ý nghĩa siêu việt cùng với các ước vọng, cũng là những gì có tính chất qui tắc đối với văn hóa. Con người dẫn giải và hình thành môi trường tự nhiên nhờ văn hóa, một thứ văn hóa được cống hiến hướng đi nơi việc sử dụng tự do cách hữu trách, hợp với huấn lệnh của lề luật luân lý. Bởi thế, các dự án phát triển toàn vẹn con người không thể nào coi thường các thế hệ tương lai, nhưng cần phải được đánh dấu bằng tình đoàn kết và bằng thứ công lý liên thế hệ, trong khi vẫn chú trọng tới các môi trường khác nhau: về môi sinh, pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hóa [117].
49. Những vấn đề liên quan tới việc chăm sóc và bảo trì môi trường ngày nay cần chú ý một cách thích đáng tới vấn đề năng lượng. Sự kiện xẩy ra là có một số Quốc Gia, một số nhóm và tổ hợp năng lượng đang tích trữ các nguồn năng lượng không thể phục hồi là những gì cho thấy một trở ngại trầm trọng đối với việc phát triển ở những xứ sở nghèo. Những xứ sở ấy thiếu phương tiện về kinh tế để có được những nguồn năng lượng không thể phục hồi hay là để tài trợ nghiên cứu các giải pháp mới khác. Việc tích trữ các nguồn lợi thiên nhiên, một việc cũng xuất hiện cả ở những xứ sở nghèo, gây ra một thứ khai thác và các cuộc xung đột thường xuyên giữa các quốc gia và trong các quốc gia. Những thứ xung đột này thường xẩy ra trên mảnh đất của những xứ sở ấy, với con số trầm trọng về tử vong, hủy hoại và băng hoại hơn nữa. Cộng đồng quốc tế có nhiệm vụ khẩn trương trong việc tìm kiếm phương tiện cơ cấu để điều hành việc khai thác các nguồn lợi bất khả phục hồi ấy, bao gồm cả các xứ sở nghèo trong tiến trình điều hành, để cùng nhau hoạch định cho tương lai.
Cả về phương diện này nữa, theo luân lý cũng rất cần đến tình đoàn kết mới mẻ, nhất là nơi những mối liên hệ giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia ở mức kỹ nghệ cao [118]. Những xã hội tân tiến về kỹ thuật có thể và cần phải giảm bớt việc tiêu thụ năng lượng nội địa của mình, một là bằng một thứ tiến hóa nơi các phương pháp chế tạo hay bằng việc ý thức hơn nữa về môi sinh nơi thành phần công dân của mình. Cần phải nói thêm là hiện nay có thể chiếm được tính cách hiệu năng cải tiến về năng lượng đồng thời phấn khích việc nghiên cứu các hình thức thay đổi về năng lượng. Tuy nhiên, điều cũng cần nữa đó là việc tái phân phối toàn cầu về các nguồn năng lượng, nhờ đó các xứ sở thiếu những nguồn lợi này có thể với tới chúng. Số phận của các xứ sở này không thể rơi vào tay của bất cứ ai cho mình là kẻ đầu tiên chiếm được các thứ chiến lợi phẩm, hay bất cứ ai có thể thắng vượt được những người khác. Ở đây chúng ta đang bàn tới các vấn đề chính; nếu chúng được đối đầu cách thích đáng, thì hết mọi người cần phải sáng suốt nhận ra tầm ảnh hưởng của chúng đối với các thế hệ tương lai, nhất là đối với nhiều giới trẻ ở các quốc gia nghèo khổ, thành phần “yêu cầu đảm nhận phần chủ động của mình trong việc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn” [119].
50. Trách nhiệm này là một trách nhiệm toàn cầu, vì nó liên quan chẳng những tới vấn đề năng lượng mà còn với toàn thể thiên nhiên tạo vật là những gì không được lưu lại một cách hao hụt đi các nguồn lợi của nó cho các thế hệ tương lai. Loài người hành sử một cách hợp lý một thứ vai trò quản thủ hữu trách đối với thiên nhiên, để bảo vệ nó, để hoan hưởng các hoa trái của nó và để vun trồng nó bằng những đường lối mới mẻ, nhờ sự trợ giúp của các thứ kỹ thuật tân tiến, để nó có thể xứng đáng cung ứng và phục vụ dân số thế giới. Hết mọi người đều có chỗ của mình trên trái đất này: ở nơi đây toàn thể gia đình nhân loại cần phải thấy được các nguồn lợi để sống cách xứng với phẩm giá của mình, nhờ sự giúp đỡ của chính thiên nhiên – tặng ân của Thiên Chúa ban cho con cái của Ngài – cũng như bằng việc chịu khó và óc sáng tạo. Chúng ta đồng thời cũng phải nhìn nhận phần vụ nặng nề của chúng ta trong việc trao trái đất này cho các thế hệ tương lai ở một điều kiện cả họ nữa có thể xứng đáng cư trú ở đó và tiếp tục vun trồng nó. Điều này có nghĩa là dấn thân thực hiện các quyết định chung “sau khi sáng suốt suy nghĩ về con đường cần phải theo, những quyết định nhắm tới chỗ củng cố mối giao ước giữa con người và môi trường, một giao ước cần phản ảnh tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa là Đấng chúng ta xuất phát và qui về” [120].
Chúng ta hy vọng rằng cộng đồng quốc tế và các chính quyền sẽ thành đạt trong việc đối đầu với những đường lối tai hại gây ra cho môi trường. Cũng thế, các thẩm quyền hữu trách phải hết sức bảo đảm là những tốn phí về kinh tế và xã hội trong việc sử dụng hết các nguồn lợi chung về môi trường được minh bạch tường trình và hoàn toàn sinh lợi bởi những ai có trách nhiệm, không phải bởi những người khác hay bởi các thế hệ tương lai: việc bảo về môi trường, các nguồn lợi và khí hậu là những gì buộc tất cả mọi vị lãnh đạo quốc tế hợp nhau tác hành và tỏ ra sẵn sàng làm việc cách thành tâm, tôn trọng luật pháp và cổ võ tình đoàn kết với các miền yếu kém trên thế giới này [121]. Một trong những thách đố lớn lao nhất gây khó dễ cho nền kinh tế đó là việc đạt được việc sử dụng hữu hiệu nhất – chứ không phải lạm dụng – các nguồn lợi thiên nhiên, dựa trên một thứ hiện thực hóa ý niệm về “tính cách hữu hiệu” không phải là một thứ phi giá trị.
51. Đường lối nhân loại đối xử với môi trường là những gì ảnh hưởng tới đường lối nhân loại đối xứ với chính mình, hay ngược lại. Điều này kêu gọi xã hội hiện nay hãy nghiêm cẩn xét lại lối sống của mình, một lối sống mà ở nhiều phần đất trên thế giới, đang hướng về chủ nghĩa khoái lạc và hưởng thụ, bất kể những hậu quả tai hại của chúng [122]. Điều cần thiết đó là một chuyển hướng hữu hiệu về một thứ tâm thức có thể dẫn tới chỗ chấp nhận những lối sống mới là những lối sống mà việc tìm cầu chân, thiện, mỹ và mối hiệp thông với nhau vì sự phát triển chung là những yếu tố quyết định việc chọn lựa, tiết kiệm và đầu tư vấn đề tiêu thụ” [123]. Hết mọi thứ vi phạm đến tình đoàn kết và mối thân hữu dân sự đều tác hại tới môi trường, như tình trạng suy yếu về môi trường ngược lại làm đảo lộn những mối liên hệ trong xã hội vậy. Thiên nhiên, nhất là trong thời đại của chúng ta, rất hội nhập với guồng máy sinh động của xã hội và văn hóa là những gì hiện nay khó có thể tạo nên một thứ khả biến độc lập. Tình trạng sơ xác khô cằn và suy đồi nơi việc sản xuất ở một số miền nông nghiệp cũng là hậu quả của vấn đề kiệt quệ và kém phát triển nơi thành phần dân cư của chúng. Chính thiên nhiên sẽ được bảo vệ khi có những kích tố cho việc phát triển về kinh tế và văn hóa. Ngoài ra, biết bao nhiêu là nguồn lợi thiên nhiên đã bị chiến tranh phung phá! Hòa bình nơi và giữa các dân tộc cũng giúp nhiều hơn cho việc bảo vệ thiên nhiên. Việc tích trữ các nguồn lợi, nhất là nước, có thể gây ra các cuộc xung đột trầm trọng giữ thành phần dân chúng trong cuộc. Việc vui vẻ đồng ý với nhau về vấn đề sử dụng các nguồn lợi có thể bảo vệ thiên nhiên và đồng thời cả mối phúc hạnh của các xã hội liên quan nữa.
Giáo Hội có trách nhiệm đối với thiên nhiên tạo vật và Giáo Hội cần phải cương quyết thi hành trách nhiệm này trong đời sống xã hội. Để thực hiện điều này, Giáo Hội cần phải bênh vực chẳng những trái đất, nước, và không khí như là tặng ân của việc tạo dựng thuộc về hết mọi người. Trên hết Giáo Hội bảo vệ nhân loại khỏi bị tự hủy. Cái được gọi là sinh thái về nhân bản cần phải được hiểu cách đúng đắn. Tình trạng suy thoái về thiên nhiên thực sự liên hệ chặt chẽ với thứ văn hóa hình thành việc chung sống của con người, ở chỗ, khi “sinh thái về nhân bản” [124] được tôn trọng trong xã hội thì sinh thái về môi trường cũng được phúc lợi. Như các nhân đức của con người là những gì tương liên với nhau, đến độ một nhân đức yếu kém gây cho những nhân đức khác nguy hiểm thế nào, thì hệ thống về sinh thái là những gì được căn cứ vào vấn đề tôn trọng dự án cũng ảnh hưởng tới cả tình trạng lành mạnh của xã hội và mối liên hệ tốt đẹp của nó với thiên nhiên.
Để bảo vệ thiên nhiên, việc can thiệp của những kích tố hay cản trở về kinh tế cũng không đủ; thậm chí cả đến vấn đề giáo dục cách thích đáng cũng không đủ. Đó là những cách thức quan trọng, thế nhưng vấn đề quyết liệt ở đây là chiều hướng luân lý chung của xã hội. Nếu không biết tôn trọng quyền sống và quyền chết tự nhiên, nếu việc thụ thai con người, cưu mang và sinh nở một cách nhân tạo, nếu các phôi thai bào con người bị hy sinh cho việc nghiên cứu, thì lương tâm của xã hội sẽ tiến tới chỗ mất đi ý niệm đối với vấn đề sinh thái về nhân bản, theo đó, cả vấn đề sinh thái về môi trường nữa.
Thật là mâu thuẫn khi nhấn mạnh rằng các thế hệ tương lai tôn trọng môi trường thiên nhiên khi các hệ thống giáo dục của chúng ta cùng với những luật lệ lại không giúp chúng tôn trọng chính bản thân chúng. Cuốn sách về thiên nhiên là một cuốn sách duy nhất và bất khả phân chia: nó bao gồm chẳng những môi trường mà còn cả sự sống, tính dục, hôn nhân, gia đình, các mối liên hệ về xã hội nữa: tóm lại là vấn đề phát triển toàn vẹn con người. Những nhiệm vụ của chúng ta đối với môi trường là những gì liên hệ với các nhiệm vụ của chúng ta đối với con người là thành phần được thấy nơi chính mình và liên hệ với nhau. Thật là sai lầm khi chủ trương một loạt những nhiệm vụ trong khi đó lại chà đạp lên các nhiệm vụ khác. Vấn đề ở đây đó là cái mâu thuẫn ngược ngạo trầm trọng nơi tâm thức của chúng ta với việc thực hành ngày nay: một thứ nghịch ngược hạ giá con người, lũng đoạn môi sinh và tác hại xã hội.
52. Chân lý, và tình yêu được nó tỏ lộ, không thể là những gì được sản xuất ra: chúng chỉ có thể được lãnh nhận như là một tặng ân. Nguồn mạch tối hậu của chúng không phải là và không thể là nhân loại mà chỉ là Thiên Chúa, Đấng chính là Chân Lý và Tình Yêu. Nguyên tắc này hết sức quan trọng đối với xã hội cũng như đối với việc phát triển, vì chẳng có điều nào trong chúng có thể thuần túy là sản phẩm của nhân loại; ơn gọi phát triển về phần cá nhân và chư dân không dựa duy vào việc chọn lựa của con người, mà là một phần duy nhất của dự án có trước chúng ta và tạo nên một nhiệm vụ cần tất cả chúng ta tự nguyện chấp nhận. Những gì có trước chúng ta và tạo nên chúng ta – Tình yêu và Chân Lý tồn tại – cho chúng ta thấy sự thiện hảo là gì và niềm hạnh phúc chân thực của chúng ta là ở chỗ nào. Nó cho chúng ta thấy con đường dẫn đến chỗ phát triển thực sự.
Chương Năm
Việc Hợp Tác của Gia Đình Nhân Loại
53. Một trong những hình thức sâu xa nhất của nghèo khó người ta có thể cảm nghiệm thấy đó là cảnh cô lập. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn các loại nghèo khổ khác, bao gồm cả những hình thức nghèo khổ về vật chất, chúng ta thấy rằng chúng xuất phát từ cảnh cô lập, từ tình trạng không được yêu thương hay từ những khó khăn để có thể yêu thương. Tình trạng nghèo khổ thường được xuất phát từ việc ruồng bỏ tình yêu của Thiên Chúa, bằng khuynh hướng căn bản và thảm thê của con người trong việc khép mình lại, nghĩ rằng tự mình đã đủ cho mình hay chỉ là một sự kiện tầm thường và phù du, một “kẻ lạ” trong một vũ trụ ngẫu nhiên. Con người trở nên xa lạ khi họ lẻ loi một mình, khi họ tách mình khỏi thực tại, khi họ không nghĩ đến và tin tưởng vào một nền tảng [125]. Tất cả nhân loại trở nên xa lạ khi đặt tin tưởng quá nhiều vào nguyên những dự phóng của con người, những ý hệ và những không tưởng sai lầm [126]. Ngày nay, nhân loại trở nên giao tiếp với nhau hơn trong quá khứ: Cảm quan chung về sự gần gũi nhau này cần phải được biến đổi thành mối hiệp thông thật sự. Việc phát triển của các dân tộc lệ thuộc trước hết vào vấn đề nhìn nhận rằng nhân loại là một gia đình duy nhất cùng nhau làm việc trong mối hiệp thông chân thực, chứ không phải chỉ là một nhóm của các chủ thể tự nhiên sống bên nhau [127].
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ghi nhận rằng “thế giới này đang bị trục trặc vì thiếu suy nghĩ” [128]. Ngài nêu lên một nhận định, thế nhưng cũng bày tỏ một ước muốn, đó là cần một đường lối suy nghĩ mới để đạt tới một kiến thức tốt đẹp hơn về những hàm ý của vấn đề một gia đình duy nhất; việc giao liên giữa chư dân trên thế giới kêu gọi chúng ta hãy bắt đầu đường lối mới mẻ này, nhờ đó vấn đề hội nhập là những gì tiêu biểu cho tình đoàn kết [129] hơn là tình trạng bị trừ khử. Việc suy nghĩ theo kiểu này cần đến một thẩm định nghiêm cẩn sâu xa hơn về thứ loại của mối liên hệ. Đây là một công việc không thể đảm nhận bởi một mình các khoa xã hội học, vì cần có cả sự đóng góp của khoa thần học và siêu hình học nữa, nếu hiểu một cách thích đáng phẩm vị siêu việt của con người.
Là một hữu thể có hồn thiêng, loài người tạo vật được định hình nhờ những tương quan liên bản vị. Họ càng sống đích thực những mối liên hệ này thì căn tính bản vị của họ càng trưởng thành. Không phải là nhờ ở việc cô lập mà con người thiết lập giá trị của mình, mà là nhờ việc giao tiếp mình với người khác cũng như với Thiên Chúa. Thế nên những mối liên hệ này có một tầm vóc thật quan trọng. Cả về các con người cũng đúng như thế nữa. Một thứ kiến thức siêu hình về các mối liên hệ giữa con người với nhau bởi thế mang lại nhiều ích lợi cho việc phát triển của họ. Về vấn đề này, lý trí tìm thấy hứng khởi và hướng đi nơi mạc khải của Kitô giáo, một mạc khải cho thấy cộng đồng nhân loại không hút mất cá nhân, bằng việc làm tiêu tan đi tính cách tự động của họ, như từng xẩy ra nơi những hình thức khác nhau của chủ nghĩa độc tài toàn trị, trái lại càng coi trọng họ vì mối liên hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một liên hệ giữa một tổng thể này với một tổng thể khác [130]. Như một gia đình không nhận chìm đi các căn tính của mỗi phần tử mình thế nào, và như Giáo Hội hoan hỉ trong mỗi “tạo vật mới” (Gal 6:15; 2Cor 5:17) được Phép Rửa tháp nhập vào Thân Thể sống động của mình, thế nào, cũng vậy, mối hiệp nhất của gia đình nhân loại không nhận chìm những căn tính của các cá nhân, của các dân tộc và của các nền văn hóa, nhưng làm cho chúng càng rõ nét đối với nhau và liên kết chúng chặt chẽ hơn nơi tính chất đa dạng hợp tình hợp lý của chúng.
54. Đề tài phát triển có thể đồng hóa với mối liên hệ bao gồm của tất cả mọi cá nhân và các dân tộc trong một cộng đồng duy nhất của gia đình nhân loại, một cộng động được xây dựng một cách đoàn kết trên nền tảng của các thứ giá trị công lý và hòa bình cốt yếu. Viễn ảnh này được chiếu giãi một cách mạnh mẽ nơi mối liên hệ giữa các Ngôi Vị Ba Ngôi trong một Bản Thể duy nhất. Ba Ngôi là một hiệp nhất tuyệt đối vì ba Ngôi Vị thần linh là một liên hệ thuần túy. Tính chất trong sáng hỗ tương giữa các Ngôi Vị thần linh là những gì hoàn toàn và mối liên hệ giữa mỗi Ngôi là những gì trọn vẹn, vì Ba Ngôi tạo nên một mối hiệp nhất chuyên biệt và tuyệt đối. Thiên Chúa muốn tháp nhập chúng ta vào thực tại hiệp thông này nữa: “để họ được nên một như chúng ta là một” (Jn 17:22). Giáo Hội là dấu hiệu và là dụng cụ cho mối hiệp nhất này [131]. Những mối liên hệ giữa con người qua giòng lịch sử không thể trở nên phong phú nếu không căn cứ vào kiểu mẫu thần linh này. Trong ánh sáng của mầu nhiệm được mạc khải về Chúa Ba Ngôi chúng ta đặc biệt hiểu được rằng việc thực sự cởi mở không có nghĩa là làm mất đi căn tính cá thể mà là một thứ liên thấu sâu xa. Điều này cũng thấy được từ những kinh nghiệm chung của con người về yêu thương và sự thật. Như tình yêu theo bí tích của đôi phối ngẫu liên kết họ một cách linh thiêng thành “một xác thịt” (Gen 2:24; Mt 19:5; Eph 5:31) và biến cả hai thành một mối hiệp nhất thực sự và liên hệ thế nào, cũng thế, một cách tương tự, chân lý liên kết các tinh thần và khiến cho cho các tinh thần này nghĩ tưởng một cách hòa hợp, bằng cách thu hút những tinh thần này như là một mối hiệp nhất đối với nó.
55. Mạc khải Kitô giáo về mối hiệp nhất của gia đình nhân loại bao hàm một ý nghĩa siêu hình học về “humanum – nhân loại” là ý nghĩa chất chứa yếu tố thiết yếu về liên hệ tính. Các nền văn hóa và tôn giáo khác giảng dạy về tình huynh đệ và nền hòa bình và vì thế góp phần hết sức quan trọng vào việc phát triển toàn vẹn con người. Tuy nhiên, có một số thái độ về tôn giáo và văn hóa không hoàn toàn chấp nhận nguyên tắc yêu thương và chân lý, do đó, đi đến chỗ làm trì trệ, thậm chí làm cản trở việc phát triển đích thực của con người. Có một số nền văn hóa về tôn giáo trên thế giới ngày nay không buộc con người nam nữ sống trong mối hiệp thông, mà là chia cắt họ ra để tìm kiếm phúc hạnh cá nhân, một thứ phúc hạnh làm thỏa mãn những ước muốn về tâm lý. Ngoài ra, tình trạng đang phát triển “những đường lối” tôn giáo khác nhau, thu hút những nhóm nhỏ, thậm chí những cá nhân, cùng với chủ trương hòa đồng tôn giáo, có thể gây ra tình trạng tách biệt và phân rẽ. Một tác dụng tiêu cực khả dĩ của tiến trình toàn cầu hóa đó là khuynh hướng thiên về thứ chủ trương hòa đồng tôn giáo này [132], bằng việc khuyến khích các hình thức “tôn giáo”, thay vì mang dân chúng lại với nhau, làm cho họ xa cách nhau và tách họ khỏi thực tại. Đồng thời cũng có một số truyền thống tôn giáo và văn hóa cứ gắn chặt với những gì làm cho xã hội bị xương xẩu hóa với các nhóm xã hội cứng ngắc, với các niềm tin mê hoặc không tôn trọng phẩm giá con người, và với những thái độ nô dịch cho các quyền lực huyền bí. Trong các bối cảnh ấy, yêu thương và chân lý khó lòng được thể hiện, và việc phát triển chân thực bị cản trở.
Đó là lý do, trong khi thật sự là việc phát triển cần đến các tôn giáo và văn hóa của những dân tộc khác nhau, thì vấn đề nhận thức cách thích đáng cũng cần không kém. Tự do tôn giáo không có nghĩa là trung lập về tôn giáo, cũng không có nghĩa là tất cả mọi tôn giáo đều bằng nhau [133]. Cần phải nhận thức đối với việc đóng góp của các nền văn hóa và tôn giáo, nhất là về phía những ai nắm quyền lực chính trị, nếu cộng đồng xã hội muốn được xây dựng trong tinh thần tôn trọng công ích. Việc nhận thức như thế cần phải căn cứ vào các qui chuẩn bác ái và chân lý. Vì việc phát triển của các con người và các dân tộc đang gặp nguy hiểm mà việc nhận thức này cần phải lưu ý tơiù nhu cầu lan tỏa và gồm tóm, trong bối cảnh của một cộng đồng nhân loại thực sự toàn cầu. “Toàn thể con người và tất cả mọi người” cũng là một qui chuẩn để thẩm định các nền văn hóa và tôn giáo. Kitô giáo, một tôn giáo của một Vị Thiên Chúa có dung nhan con người” [134], chất chứa chính cái qui chuẩn này nơi nó.
56. Kitô giáo và các tôn giáo khác có thể cống hiến việc đóng góp của mình vào việc phát triển chỉ khi nào Thiên Chúa có được một chỗ đứng trong lãnh vực công chúng, nhất là liên quan tới những chiều kích văn hóa, xã hội, kinh tế và đặc biệt là chính trị của lãnh vực công chúng này. Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội được hình thành để đòi hỏi “vai trò làm công dân” cho Kitô giáo [135]. Việc chối bỏ quyền tuyên xưng niềm tin của con người nơi công cộng và quyền làm chứng cho những chân lý của đức tin nơi đời sống chung gây ra những hậu quả tiêu cực cho việc phát triển chân thực. Việc loại trừ tôn giáo ra khỏi quần chúng – và, hoàn toàn ngược lại, chủ nghĩa duy bảo thủ tôn giáo – đều cản trở việc gặp gỡ giữa những con người cùng với các đóng góp của họ cho tình trạng tiến bộ của con người. Đời sống quần chúng bị kiệt quệ hứng khởi của mình và chính trị chiếm vai chủ chốt và trở nên hung hãn. Các thứ nhân quyền có cơ nguy bị coi thường, hoặc vì chúng bị cướp lột cái nền tảng siêu việt của chúng hay vì quyền tự do cá nhân không được công nhận. Chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa bảo thủ loại trừ đi tiềm năng của việc đối thoại tốt đẹp cũng như việc hợp tác hiệu năng giữa lý trí và niềm tin tôn giáo. Lý trí bao giờ cũng cần phải được đức tin thanh tẩy: điều này cũng đúng với cả lý trí về chính trị, một thứ lý trí không được coi mình là toàn năng. Về phần mình, tôn giáo bao giờ cũng cần phải được lý trí thanh luyện để cho thấy bộ mặt con người chân thực của nó. Bất cứ vấp gẫy nào xẩy ra trong cuộc đối thoại này thì việc phát triển của con người đều phải trả một giá khủng khiếp.
57. Cuộc đối thoại mang lại hoa trái giữa đức tin và lý trí chỉ có thể làm cho hoạt động bác ái trở nên hiệu năng hơn trong xã hội, và nó tạo nên cái cung cách thích đáng nhất trong việc cổ võ việc hợp tác huynh đệ giữa thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng nơi việc họ cùng nhau dấn thân hoạt động cho công lý và hòa bình của gia đình nhân loại. Trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng Và Hy Vọng, các vị nghị phụ của Công Đồng chủ trương rằng “thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng hầu như đồng loạt chấp nhận rằng tất cả mọi sự trên thế gian này cần phải được hướng về con người như là trung tâm và tột đỉnh của chúng” [136]. Đối với thành phần tín ngưỡng thì thế giới này không xuất phát từ ngẫu nhiên mù quáng hay từ cái hết sức thiết yếu mà là từ dự án của Thiên Chúa. Đó là những gì khiến cho thành phần tín ngưỡng phải có nhiệm vụ liên kết nỗ lực của mình với nỗ lực của tất cả mọi con người nam nữ thiện chí, với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác cũng như với thành phần vô tín ngưỡng, nhờ đó thế giới này của chúng ta mới có thể hiệu nghiệm đáp ứng dự án thần linh, ở chỗ sống với nhau như là một gia đình dưới ánh mắt trông coi của Thiên Chúa. Một biểu lộ đặc biệt của đức bác ái và một qui chuẩn hướng dẫn cho việc hợp tác huynh đệ giữa thành phần tín ngưỡng và vô tín ngưỡng thật sự là nguyên tắc phụ trợ [137], một thể hiện quyền tự do bất khả tách lìa của con người. Việc phụ trợ trước hết và trên hết là một hình thức trợ giúp cho con người nhờ sự tự động của các cơ cấu trung gian. Việc trợ giúp như thế được cống hiến khi cá nhân con người hay các nhóm người không thể tự mình hoàn thành một điều gì đó, và bao giờ nó cũng nhắm đến chỗ giải phóng họ, vì nó nuôi dưỡng tự do cùng với việc tham dự nhờ ở chỗ họ lãnh nhận trách nhiệm. Việc phụ trợ tỏ ra tôn trọng phẩm vị cá nhân khi nhìn nhận nơi con người này một chủ thể bao giờ cũng có khả năng cống hiến một cái gì đó cho người khác. Khi coi tính cách hỗ tương như tâm điểm của những gì phải là một con người, sự phụ trợ là một kháng tố hiệu nghiệm nhất chống lại với bất cứ hình thức nào của trạng thái an sinh gồm tóm mọi sự. Nó có thể chú trọng tới cả vấn đề phác họa những dự án đa diện – vì thế chú trọng tới tính chất đa dạng của chủ thể – cũng như tới việc điều hợp của các dự án ấy. Thế nên nguyên tắc phụ trợ đặc biệt xứng hợp với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa và việc điều khiến nó hướng tới việc phát triển con người chân thực. Để đừng sản xuất ra một thứ quyền lực hoàn vũ nguy hiểm có một bản chất chuyên chế bạo ngược, việc quản trị vấn đề toàn cầu hóa cần phải có tính chất phụ trợ, một thứ phụ trợ có vài tầng lớp ăn khớp với nhau và bao gồm những mức độ khác nhau có thể cùng nhau làm việc. Vấn đề toàn cầu hóa chắc chắn cần đến quyền bính, vì nó động thới vấn đề của một thứ công ích toàn cầu cần phải được theo đuổi thực hiện. Tuy nhiên, quyền bính này cần phải tổ chức một cách phụ trợ và phân tầng [138], nếu không muốn nó vi phạm tới quyền tự do và nếu muốn nó mang lại thành quả trong thực hành.
58. Nguyên tắc phụ trợ cần phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc đoàn kết và ngược lại, vì nguyên tắc trước mà thiếu nguyên tắc sau thì mở đường cho chủ nghĩa riêng tư xã hội, và nếu nguyên tắc sau thiếu nguyên tắc trước thì dẫn lối cho thứ trợ giúp xã hội trịch thượng coi thường thành phần nghèo nàn thiếu thốn. Luật chung này cũng cần phải rộng rãi cứu xét khi giải quyết những vấn đề liên quan tới việc trợ giúp phát triển quốc tế. Việc trợ giúp như thế, bất kỳ ý định của thành phần cống hiến ra sao, đôi khi có thể đẩy dân chúng vào tình trạng lệ thuộc, thậm chí còn gây ra những trường hợp đàn áp ở địa phương và vấn đề bóc lột ở quốc gia lãnh nhận. Việc trợ giúp kinh tế, để thực sự đạt được mục đích của nó, không được theo đuổi những mục tiêu phụ. Nó cần phải được phân phát với sự tham gia chẳng những của các chính quyền của những xứ sở lãnh nhận, mà còn của các tác nhân về kinh tế ở địa phương cùng với thành phần đi làm văn hóa trong xã hội dân sự nữa, bao gồm cả các Giáo Hội địa phương. Những chương trình cứu trợ cần phải gia tăng tính chất tham dự và hoàn trọn từ gốc rễ của nó. Thật vậy, những nguồn lợi giá trị nhất ở các xứ sở nhận lãnh trợ giúp phát triển là những nguồn lợi về nhân bản, một nguồn lợi chất chứa cái vốn liếng thực sự cần phải được tích lũy để bảo đảm một tương lai tự lập thực sự cho các xứ sở nghèo khổ. Cũng cần phải nhớ rằng, ở lãnh vực kinh tế, hình thức chính của vấn đề trợ giúp cần thiết nơi các quốc gia đang phát triển đó là hình thức cho phép và khuyến khích việc từ từ thấm nhập các thứ sản phẩm của họ vào những thị trường quốc tế, nhờ đó những xứ sở này có thể hoàn toàn tham phần vào sinh hoạt kinh tế quốc tế. Trong quá khứ rất thường xẩy ra là việc viện trợ góp phần tạo nên những thứ thị trường lẻ đối với các thứ sản phẩm của những xứ sở hiến tặng này. Điều này xẩy ra vì thường thiếu nhu cầu đích thực đối với những sản phẩm được đặt ra ấy: vì thế cần phải giúp các xứ sở như thế cải tiến những sản phẩm của họ và thích ứng một cách hiệu nghiệm hơn với nhu cầu hiện hữu. Ngoài ra, có những người sợ các hậu quả của việc cạnh tranh nơi việc nhập cảng các thứ sản phẩm – bình thường là các sản phẩm về nông nghiệp – từ các quốc gia nghèo về kinh tế. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng đối với các xứ sở như vậy thì tiềm năng quảng bá những sản phẩm của họ rất thường là những gì bảo đảm việc tồn tại của họ cả trong trường hợp ngắn hạn lẫn dài hạn. Vấn đề mậu dịch quốc tế cách chính đáng và bình đẳng nơi các sản phẩm về canh nông cần phải mưu ích cho hết mọi người, cả thành phần cung cấp lẫn thành phần tiêu thụ. Vì lý do này, chẳng những cần phải thực hiện việc hướng dẫn thương mại về vấn đề sản xuất loại này, mà còn thiết lập những qui định mậu dịch quốc tế để nâng đỡ nó và tài trợ hơn nữa cho việc phát triển để gia tăng khả năng sản xuất của các ngành kỹ nghệ ấy.
59. Việc hợp tác cho vấn đề phát triển không được chỉ quan tâm tới chiều kích kinh tế: nó phải cống hiến một cơ hội tuyệt vời cho việc gặp gỡ giữa các nền văn hóa và dân chúng. Nếu các phía tham gia vào việc cộng tác ở về bên các xứ sở phát triển về kinh tế – như có khi xẩy ra – không lưu ý tới căn tính văn hóa riêng của mình hay của người khác, hoặc các thứ gia trị nhân bản làm nên căn tính này, thì họ không thể tham dự vào một cuộc đối thoại có ý nghĩa với thành phần công dân của các xứ sở nghèo. Nếu các xứ sở nghèo, về phần mình, lại cởi mở một cách thiếu sáng suốt và bừa bãi đối với hết mọi thứ đề xuất về văn hóa, họ sẽ không còn ở trong vị thế đảm nhận trách nhiệm đối với việc phát triển đích thực của riêng mình nữa [139]. Các xã hội tân tiến về kỹ thuật không được xáo trộn việc phát triển về kỹ thuật của mình với một thứ nắm giữ ưu thế về văn hóa, trái lại, cần phải tái khám phá nơi mình những thứ đức hạnh thường bị quên lãng giúp họ có thể triển nở khắp giòng lịch sử của họ. Các xã hội đang tiến hóa cần phải trung thành với tất cả những gì thực sự là nhân bản nơi các truyền thống của mình, tránh lánh khuynh hướng phủ lấp mình một cách tự động bằng những động lực của một thứ văn minh kỹ thuật được toàn cầu hóa. Nơi tất cả mọi nền văn hóa, có những gương mẫu về vấn đề tụ hội đạo lý, một số thì bị cô lập, một số thì tương liên, như là một thể hiện của một bản tính con người duy nhất theo ý muốn của Tạo Hóa; truyền thống của sự khôn ngoan về đạo lý này cho điều này như là luật tự nhiên [140]. Luật luân lý phổ quát này cung cấp một nền tảng lành mạnh cho tất cả mọi cuộc đối thoại về văn hóa, tôn giáo và chính trị, và nó bảo đảm rằng vấn đề đa nguyên muôn mặt nơi tính chất đa dạng về văn hóa là những gì không tách mình ra khỏi việc cùng tìm cầu chân lý, thiện hảo và Thiên Chúa. Bởi thế, việc gắn bó với luật lệ được ghi khắc nơi tâm can con người là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi việc hợp tác xây dựng về xã hội. Hết mọi nền văn hóa đều có những gánh nặng nó cần phải được giải cứu và những bóng tối nó cần phải được thoát ra. Đức tin Kitô giáo, nhờ việc hội nhập vào các nền văn hóa và đồng thời siêu vượt hơn chúng, có thể giúp chúng tăng trưởng trong tình huynh đệ và kết đoàn phổ quát, cho việc tiến bộ của vấn đề phát triển toàn cầu và cộng đồng.
60. Trong việc tìm kiếm những giải pháp cho cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, việc cứu trợ về phát triển cho các xứ sở nghèo khổ cần phải được coi là phương tiện hữu hiệu để tạo nên thịnh vượng cho tất cả mọi người. Chương trình trợ giúp nào có thể nắm giữ những viễn ảnh tăng trưởng khả quan như thế – cho dù theo quan điểm của nền kinh tế thế giới – như một thứ nâng đỡ cho thành phần dân chúng vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khởi hay ban đầu của việc phát triển về kinh tế? Theo quan điểm ấy, các quốc gia càng phát triển về kinh tế lại càng cần phải làm hết sức mình để phân phối những phần lớn của tổng sản lượng nội quốc cho việc trợ giúp phát triển, nhờ đó tỏ ra tôn trọng những trách nhiệm cộng đồng quốc tế cần phải đảm đương về vấn đề này. Một trong những cách thức để thực hiện điều này đó là kiểm điểm lại việc trợ giúp xã hội cùng với các chính sách về an sinh trong nội bộ của mình, bằng cách áp dụng nguyên tắc phụ trợ và bằng việc tạo nên các hệ thống an sinh hội nhập với nhau cách tốt đẹp hơn, với sự tham dự chủ động của các cá nhân cũng như của xã hội dân sự. Nhờ đó, nó thực sự có thể cải tiến các thứ dịch vụ xã hội cùng những chương trình an sinh, đồng thời còn giữ được các nguồn lợi – bằng việc loại trừ thừa thãi và loại bỏ những thứ đòi hỏi gian lận – là những gì bấy giờ có thể sử dụng vào tình đoàn kết quốc tế. Một hệ thống được ủy thác và lớp lang hơn về tình đoàn kết xã hội, ít quan lại nhưng vẫn không kém phối trí, sẽ có thể giúp khai thác được nhiều sinh lực thầm lặng cho lợi ích của tình đoàn kết giữa các dân tộc.
Một giải pháp khả dĩ cho vấn đề trợ giúp phát triển đó là việc áp dụng một cách hiệu nghiệm những gì được coi là vấn đề phụ trợ về tài chính, cho phép thành phần công dân quyết định cách thức phân phối một phần của các thứ thuế khoá họ trả cho Chính Quyền. Nếu nó không thoái hóa thành việc cổ võ cho các thiện ích riêng biệt thì điều này có thể giúp kích thích các hình thức của tình trạng đoàn kết về an sinh từ bên dưới, với những thiện ích hiển nhiên ở lành vực đoàn kết cho việc phát triển nữa.
61. Tình đoàn kết rộng lớn hơn ở tầm cấp quốc tế đặc biệt được thấy theo chiều hướng liên tục cổ võ – thậm chí giữa cuộc khủng hoảng về kinh tế – phương tiện nhiều hơn nữa cho vấn đề giáo dục, một vấn đề giáo dục đồng thời cũng là một điều kiện tiên quyết thiết yếu cho vấn đề hợp tác quốc tế cách hiệu năng. Chữ “giáo dục” ám chỉ chẳng những tới việc dạy học ở trường và việc huấn nghệ – cả hai đều là những yếu tố quan trọng nơi vấn đề phát triển – mà tới việc hình thành trọn vẹn con người nữa. Về vấn đề này, có một vấn đề cần được nhấn mạnh, đó là, để giáo dục, cần phải biết bản tính của con người, biết họ là ai. Vấn đề càng ngày càng thịnh hành về một thứ kiến thức có tính chất tương đối thuyết về bản tính này cho thấy các vấn đề trục trặc trầm trọng đối với vấn đề giáo dục, nhất là vấn đề giáo dục về luân lý, gây nguy hiểm cho chiều kích phổ quát của vấn đề giáo dục về luân lý này. Chiều theo thứ chủ nghĩa tương đối này làm cho hết mọi người trở thành bần cùng hơn và tạo ra một tác dụng tiêu cực về tính chất hiệu năng của việc trợ giúp cho thành phần túng thiếu nhất, thành phần thiếu chẳng những phương tiện kinh tế và kỹ thuật, mà còn cả những phương pháp và nguồn liệu giáo dục để trợ giúp dân chúng nhận ra trọn vẹn tiềm năng nhân bản của họ.
Một trưng dẫn về tầm quan trọng của vấn đề này được cho thấy bởi hiện tượng du lịch quốc tế [141], một thứ du lịch có thể là yếu tố chính nơi việc phát triển về kinh tế và tăng trưởng về văn hóa, nhưng đồng thời nó cũng có thể trở thành một cơ hội khai thác và suy đồi về luân lý. Tình hình hiện nay đang cống hiến những cơ hội đặc biệt cho các khía cạnh phát triển về kinh tế – tức là vấn đề luân chuyển tiền bạc và việc xuất hiện của một số kinh doanh địa phương khả quan – cần phải được kết hợp với những khía cạnh về văn hóa, mà khía cạnh chính là vấn đề giáo dục. Trong nhiều trường hợp đó là những gì đang xẩy ra, thế nhưng, ở những trườnmg hợp khác, vấn đề du lịch quốc tế lại có một ảnh hưởng tiêu cực về giáo dục cả cho thành phần du khách lẫn dân chúng địa phương. Thành phần dân chúng địa phương thường bị rơi vào những hình thức tác hành vô luân hay thậm chí bại hoại, như trong trường hợp của cái được gọi là du lịch tính dục, thứ du lịch mà nhiều con người bị hy sinh thậm chí ở vào tuổi non dại. Thật là buồn khi ghi nhận rằng hoạt động này thường xẩy ra với sự hỗ trợ của các chính quyền địa phương, với sự câm lặng từ những chính quyền thuộc các xứ sở gốc gác của thành phần du lịch ấy, và với việc đồng lõa của nhiều thành phần hành nghề du lịch. Thậm chí trong cả những trường hợp ít trầm trọng hơn, việc du lịch quốc tế thường theo đuổi một kiểu mẫu hưởng thụ và khoái thú, như là một hình thức thoát ly thực tế được hoạch định một cách thông dụng của các xứ sở gốc gác, và vì thế không có lợi cho việc gặp gỡ chính thực giữa con người và văn hóa. Thế nên, chúng ta cần khai triển một kiểu du lịch khác có khả năng cở võ viện hiểu biết nhau, mà không lấy mất yếu tố nghĩ ngơi và giải trí lành mạnh. Việc du lịch kiểu này cần phải được gia tăng, một phần nhờ việc điều hợp sát cận hơn với kinh nghiệm có được từ việc hợp tác và kinh doanh quốc tế cho vấn đề phát triển.
62. Một khía cạnh khác của vấn đề phát triển toàn vẹn con người đáng lưu ý nữa đó là hiện tượng di dân. Đây là một hiện tượng nổi nang về con số người ở trong cuộc, về những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo do nó gây ra, và về những thách đố ghê gớm nó đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang đối diện với một hiện tượng xã hội đáng làm thành lịch sử của kỷ nguyên này đang cần đến những chính sách vững mạnh vươn lên về việc hợp tác quốc tế nếu hiện tượng này được đương đầu một cách hiệu nghiệm. Những chính sách như thế phải được bắt đầu từ việc chặt chẽ hợp tác giữa các xứ sở gốc gác của người di dân với những xứ sở họ đến ở; nó cần phải được kèm theo bằng những tiêu chuẩn quốc tế thích đáng có thể điều hợp những hệ thống luật pháp khác nhau để bảo đảm những nhu cầu và những quyền lợi của cá nhân thành phần di dân cùng gia đình của họ, đồng thời cả những nhu cầu và quyền lợi của các quốc gia chủ nhà nữa. Không một quốc gia nào có thể cho rằng tự mình giải quyết được những vấn đề ngày nay. Tất cả chúng ta đều chứng kiến thấy được gánh nặng của khổ đau, của vấn đề chuyển dời và của những ước vọng được ấp ủ nơi đoàn lũ người di dân. Như mọi người đều biết, khó có thể giải quyết được hiện tượng này; thế nhưng có một điều chắc chắn đó là các nhân viên ngoại quốc, bất chấp bất cứ khó khăn nào liên quan tới vấn đề di dân, cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của xứ sở chủ nhà nhờ việc lao nhọc của họ, không kể những gì họ làm cho xứ sở quê hương của họ bằng việc gửi tiền về nước. Hiển nhiên là không được coi thành phần lao công này như là một thứ hàng hóa hay chỉ là một thứ lực lượng làm việc. Bởi thế, không được đối xử với họ như bất cứ yếu tố nào khác của việc sản xuất. Hết mọi người di dân là một con người, thành phần mà vì như thế, có những quyền lợi căn bản, bất khả tách biệt là những gì cần phải được mọi người tôn trọng trong mọi hoàn cảnh [142].
63. Không một quan tâm nào về các vấn đề liên quan tới việc phát triển mà lại không nhấn mạnh tới mối liên hệ trực tiếp giữa vấn đề nghèo khổ và vấn đề thất nghiệp. Ở nhiều trường hợp, vấn đề nghèo khổ xuất phát từ việc vi phạm đến phẩm giá của việc làm nhân bản, hoặc vì những cơ hội làm việc bị hạn chế (bởi vấn đề thất nghiệp hay kém việc làm), hay “vì coi thường việc làm cùng với các quyền lợi từ đó mà ra, nhất là quyền có được một số lương chính đáng và quyền được bảo đảm an ninh cho cá nhân của nhân viên cũng như của gia đình của họ” [143]. Đó là lý do, vào ngày 1/5/2000, nhân dịp Mừng Đại Năm Thánh của thành phần Lao Công, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phổ biến lời kêu gọi về “một liên minh toàn cầu thuận lợi cho ‘việc làm xứng đáng’” [144], ủng hộ sách lược của Tổ Chức Lao Công Quốc Tế. Như thế, ngài đã đẩy mạnh mục tiêu này, coi nó như là một ước vọng của các gia đình trong các xứ sở trên thế giới. Chữ “xứng đáng” liên quan tới việc làm ở đây nghĩa là gì? Nghĩa là việc làm thể hiện phẩm giá thiết yếu của hết mọi con người nam nữ theo bối cảnh xã hội riêng của họ: việc làm được tự do chọn lựa, liên kết một cách hiệu nghiệm thành phần làm việc, cả nam lẫn nữ, với việc phát triển của cộng đồng họ; việc làm giúp thành phần làm việc có thể được tôn trọng và thoát khỏi bất cứ hình thức kỳ thị nào; việc làm giúp gia đình họ có thể thỏa đáng các nhu cầu của họ và cung cấp học vấn cho con cái họ, mà không bắt trẻ em phải tham gia lao công; việc làm giúp các người làm việc có thể tự do tổ chức lại với nhau hầu phát biểu tiếng nói của họ; việc làm giành đủ chỗ cho việc tái khám phá ra những gốc gác của con người ở tầm mức cá nhân, gia đình và thiêng liêng; việc làm bảo đảm cho những ai hồi hưu một tiêu chuẩn sống xứng đáng.
64. Trong khi suy tư về đề tài việc làm cũng thích đáng để nhắc lại vấn đề quan trọng biết bao đó là những liên đoàn lao công – những tổ chức luôn được Giáo Hội khuyến khích và nâng đỡ – cần phải cởi mở trước những quan niệm đang hiện lên nơi thế giới việc làm. Bằng cách nhìn tới những quan tâm bao rộng hơn là loại lao động riêng biệt là những gì từ đó chúng được hình thành, các tổ chức liên hiệp được kêu gọi giải quyết một số những vấn đề mới nổi lên trong xã hội của chúng ta: tôi đang nghĩ đến, chẳng hạn, tính chất phức tạp của những vấn đề được các khoa học gia về xã hội diễn tả về một cuộc xung khắc giữa thành phần làm việc và thành phần tiêu thụ. Không nhất thiết phải tán thành luận đề là vấn đề tập trung vào vai trò của thành phần làm việc đã nhường chỗ cho vấn đề tập trung vào thành phần tiêu thụ, thì điều này vẫn xẩy ra để tạo nên cho những hiệp hội một điểm tựa mới trong việc thám hiểm một cách sáng tạo. Môi trường toàn cầu mà trong đó việc làm diễn tiến cũng đòi hỏi là các liên đoàn lao công quốc gia, thành phần có khuynh hướng giới hạn mình vào việc bênh vực những thứ thiện ích cho các phần tử trong danh sách của mình, cần phải hướng chú ý của mình tới những ai ở ngoài phần tử của mình nữa, đặc biệt là tới các công nhân ở các xứ sở đang phát triển đang bị vi phạm các quyền lợi xã hội. Việc bảo vệ cho các người làm việc ấy, một phần chiếm đạt được nhờ những khởi động nhắm tới các xứ sở gốc gác của họ, sẽ giúp cho các liên hiệp lao công có thể chứng tỏ những động lực chân thực về đạo lý và văn hóa trở thành khả dĩ giúp họ, ở một môi trường xã hội và lao công khác nhau, đóng một vai trò quyết liệt trong vấn đề phát triển. Giáo huấn truyền thống của Giáo Hội đã phân biệt rõ ràng giữa những vai trò và những phần hành tương ứng của các liên hiệp mậu dịch và chính trị. Sự phân biệt này cho phép các liên hiệp nhận thấy xã hội dân sự như là một môi trường thích đáng cho hoạt động cần thiết của họ trong việc bênh vực và cổ võ lao công, nhất là thay cho những người lao động bị khai thác và không có ai lên tiếng cho, thành phần mang thân phận vô phúc thường bị coi thường trước con mắt lơ là của xã hội.
65. Bởi thế, vấn đề tài chính – nhờ những cấu trúc được đổi mới và các phương pháp hoạt động đã được phác họa sau biến cố nó bị lạm dụng là những gì bắt nền kinh tế thực sự phải chịu tình trạng tàn phá như thế – giờ đây cần phải trở lại với vai trò làm một thứ dụng cụ nhắm vào việc kiến tạo mới cho sự thịnh vượng và phát triển. Vì là những dụng cụ, toàn thể nền kinh tế và tài chính, chứ không phải chỉ có một số lãnh vực nào, cần phải được sử dụng một cách đạo lý để tạo nên những điều kiện thích hợp cho việc phát triển của con người cũng như cho việc phát triển của các dân tộc. Thật sự là cần thiết, và ở trong một số trường hợp lại còn bắt buộc, phải tung ra những khởi động về tài chính nhắm đến chiều kích nhân đạo. Tuy nhiên, điều ấy cũng không được làm lu mờ đi sự kiện là toàn thể hệ thống tài chính phải nhắm đến chỗ bảo trì vấn đề phát triển thực sự. Trước hết, ý hướng làm tốt không được coi là không tương xứng với khả năng hiệu lực để sản xuất những sản vật. Các chuyên viên tài chính cần phải tái khám phá ra cái nền tảng chân thực về đạo lý nơi hoạt động của mình, để không lạm dụng những dụng cụ tinh xảo có thể phản lại với các ích lợi của thành phần giành dụm. Ý hướng đúng đắn, tính chất liêm khiết, và việc tìm kiếm những thành quả tích cực là những gì tương hợp với nhau và không bao giờ được tách khỏi nhau. Nếu tình yêu khôn ngoan thì nó có thể tìm thấy những đường lối hoạt động hợp với tính chất thiết thực dự phòng và chính đáng, như được sáng tỏ nơi cách thức đáng kể của nhiều kinh nghiệm về những tổ chức liên hiệp cho vay mượn.
Cả qui luật của lãnh vực tài chính trong việc bảo đảm những bên yếu kém hơn và làm suy giảm việc đầu tư tích trữ xấu xa, lẫn việc thử nghiệm các hình thức mới về tài chính, được phác họa để nâng đỡ các dự phóng phát triển, là những kinh nghiệm tích cực cần phải được khai phá và khuyến khích thêm, đề cao trách nhiệm của của thành phần đầu tư. Ngoài ra, kinh nghiệm về vấn đề tiểu tài trợ, một vấn đề được bắt nguồn từ ý nghĩ và hoạt động của thành phần nhân bản dân sự – tôi đang đặc biệt nghĩ đến cuộc phát xuất của việc cầm đồ – cần phải được củng cố và cải tiến. Đó là tất cả những gì cần thiết hơn vào những ngày này khi những khó khăn về tài chính có thể trở nên trầm trọng đối với nhiều thành phần yếu kém trong dân chúng, thành phần cần phải được bảo vệ khỏi nguy cơ nặng lãi cũng như khỏi cảm thấy thất vọng. Các phần tử yếu kém nhất trong xã hội cần phải được giúp đỡ để có thể tự vệ trước vấn đề nặng lãi, cũng như thành phần dân chúng nghèo khổ cần được giúp đỡ để có được lợi ích thực sự từ thứ vay nhỏ này, nhờ đó làm suy yếu đi việc khai thác khả dĩ xẩy ra trong hai lãnh vực này. Vì các quốc gia giầu thịnh cũng đang trải qua những hình thức nghèo khổ mới mà vấn đề tiểu tài trợ có thể cống hiến việc trợ giúp cụ thể bằng cách tung ra những khởi động mới và mở ra những lãnh vực mới cho lợi ích của những yếu tố yếu kém hơn trong xã hội, thậm chí ở vào lúc sa sút chung về kinh tế này.
66. Tính chất liên hệ toàn cầu đã dẫn đến chỗ xuất hiện một thứ quyền lực mới về chính trị, quyền lực của thành phần tiêu thụ cùng với các hiệp hội của họ. Đây là một hiện tượng cần phải được khai triển hơn nữa, vì nó chứa đựng những yếu tố tích cực cần được khích lệ cũng như những thái quá cần phải tránh lánh. Người ta cần nhận thức rằng việc mua bán bao giờ cũng là một hành động luân lý, chứ không chỉ nguyên kinh tế. Vì thế thành phần tiêu thụ có một trách nhiệm xã hội đặc biệt, một trách nhiệm đi song song với trách nhiệm xã hội của việc kinh doanh. Thành phần tiêu thụ cần phải được tiếp tục giáo dục [145] về vai trò thường nhật của họ, một vai trò có thể hành sử bằng sự tôn trọng các nguyên tắc luân lý mà không làm suy giảm cái hữu lý nội tại của kinh tế nơi tác động mua bán. Ở ngành kỹ nghệ bán lẻ, nhất là vào những lúc như hiện nay, khi mà khả năng mua bán đã trở nên suy yếu và dân chúng phải sống thanh đạm hơn, cần tìm tòi những đường lối khác: chẳng hạn, những hình thức mua bán hợp tác như việc hợp tác của tiêu thụ viên là những gì đã từng được thực hiện từ thế kỷ thứ 19, một phần là nhờ sáng kiến của người Công giáo. Lại nữa, cũng là việc ích lợi trong việc cổ võ những đường lối mới để quảng bá các thứ sản phẩm xuất phát từ các miền bị hất hủi trên thế giới, nhờ đó bảo đảm cho thành phần sản xuất của họ một cuộc tái tấu xứng đáng. Tuy nhiên, cần phải hội đủ một số điều kiện, đó là thị trường cần phải thực sự là liêm khiết; thành phần sản xuất, cũng như việc gia tăng các thứ dự trữ lợi lộc của họ, cũng cần phải huấn luyện cải tiến về khả năng và kỹ thuật chuyên nghiệp; và sau hết, việc mậu dịch kiểu này không được trở thành con tin cho các ý hệ phe đảng. Vai trò sâu sắc hơn đối với thành phần tiêu thụ, bao lâu chính họ không bị mạo dụng bởi các hiệp hội không thực sự làm đại diện cho họ, là một yếu tố đáng ước momg đối với việc xây dựng nền dân chủ về kinh tế.
67. Trước việc gia tăng không ngớt của tình trạng liên thuộc toàn cầu, hết sức cần đến, thậm chí ngay cả ở giữa cuộc suy thoái toàn cầu, một cuộc tái canh tân Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, cũng như các tổ chức về kinh tế cùng vấn đề tài chính quốc tế, nhờ đó quan niệm về gia đình của chư quốc có thể chiếm được ý nghĩa thực sự. Người ta cũng cảm thấy rất cần phải tìm được những đường lối mới mẻ để áp dụng nguyên tắc về trách nhiệm bảo vệ [146] và về việc cống hiến cho các quốc gia nghèo có được một tiếng nói hữu hiệu trong việc quyết định chung. Điều này dường như cần thiết để có thể tiến tới một lãnh vực chính trị, pháp lý và kinh tế có thể gia tăng và chỉ vẽ hướng đi đến việc hợp tác quốc tế cho việc phát triển của tất cả mọi dân tộc trong tình đoàn kết. Để điều hành nền kinh tế toàn cầu; để phục hồi các thứ kinh tế bị chới với trước cuộc khủng hoảng; để tránh bất cứ thứ suy thoái này của cuộc khủng hoảng hiện nay cùng với những chênh lệch to lớn hơn từ đó mà ra; để thực hiện việc giải giới toàn vẹn và đúng lúc, tình trạng an toàn về thực phẩm và hòa bình; để bảo đảm việc bảo vệ môi trường và chỉnh đốn việc di dân: đối với tất cả những việc làm này, hết sức cần phải có một thẩm quyền chính trị thế giới, như vị tiền nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Chân Phước Gioan XXIII đã đề cập tới ít năm trước đây. Một thẩm quyền như vậy cần phải được qui định bởi luật lệ, liên lỉ tuân giữ các nguyên tắc phụ trợ và đoàn kết, tìm cách thiết lập công ích [147], và thực hiện việc dấn thân để bảo đảm việc thực sự phát triển toàn vẹn con người là những gì được tác động bởi các thứ giá trị của bác ái trong chân lý. Chưa hết, một thẩm quyền như vậy cần phải được toàn cầu công nhận và được trao thực quyền để bảo đảm an ninh cho tất cả mọi người, chú ý tới công lý và tôn trọng các quyền lợi [148]. Dĩ nhiên là nó phải có thẩm quyền để bảo đảm việc tuân hợp với các quyết định của nó từ tất cả mọi phần tử, cũng như với các biện pháp điều hợp đã được các diễn đàn quốc tế khác nhau. Thiếu điều này, cho dù tình trạng tiến bộ lớn lao gặt hái được ở một số những lãnh vực khác nhau, luật lệ quốc tế cũng có cơ nguy bị lệ thuộc vào mức độ thăng bằng về quyền lực của những quốc gia hùng mạnh nhất. Việc phát triển toàn vẹn của chư dân và việc hợp tác quốc tế cần đến việc thiết lập ở một tầm mức rộng lớn hơn nữa việc hướng dẫn quốc tế, được đánh dấu bằng tính chất phụ trợ, đối với việc điều hành vấn đề toàn cầu hóa [149]. Cả hai điều này cũng đòi phải thiết lập một trật tự xã hội nhắm đến chỗ tuân hợp với trật tự về luân lý, với sự liên hệ giữa lãnh vực luân lý và xã hội, cũng như với mối liên hệ giữa các lãnh vực chính trị và kinh tế cùng dân sự, như được Hiến Chương Liên Hiệp Quốc vạch định.
Chương Sáu
Việc Phát Triển của Chư Dân và Vấn Đề Kỹ Thuật
68. Việc phát triển của các dân tộc là những gì sâu xa gắn liền với việc phát triển của những con người cá nhân. Tự bản tính con người là thành phần chủ động tham gia vào việc phát triển của mình. Việc phát triển được đề cập đến ở đây không phải chỉ là thành quả của những đường lối tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta có thể thực hiện những quyết định tự do và hữu trách. Nó cũng không phải chỉ do chúng ta bốc đồng lên mà có, vì tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta là một tặng ân chứ không phải là một cái gì đó tự xuất phát. Tự do của chúng ta được sâu xa hình thành bởi hữu thể của chúng ta cùng với sự hữu hạn của nó. Không ai có thể tùy nghi khuôn đúc lương tâm của mình, thế nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng “cái tôi” của mình trên căn bản một “con người” được ban cho chúng ta. Chẳng những các người khác ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta mà mỗi người chúng ta cũng ở ngoài tầm làm chủ của chính mình nữa. Việc phát triển của con người sẽ bị tổn hại nếu họ cho rằng họ tự mình phải làm nên những gì họ trở thành. Tương tự như thế, việc phát triển của các dân tộc trở thành thiên lệch nếu nhân loại nghĩ rằng mình có thể tự tái tạo nên mình bằng những “cái kỳ diệu” của kỹ thuật, như việc phát triển về kinh tế hiện lên như là một thứ giả tạo có tính cách hủy hoại nếu nó cậy dựa vào “những thứ kỳ lạ” của tiền tệ để bảo trì sự tăng trưởng gượng ép và duy hưởng thụ. Trước một thứ giả tưởng có tính cách đánh cắp này, chúng ta cần phải củng cố tình yêu thương của chúng ta cho một thứ tự do không phải chỉ là những gì tùy nghi mà là những gì được qui cho tính chất thực sự nhân bản nhờ nhận thức được sự thiện chất chứa nó. Để đạt được mục đích này, con người cần phải nhìn vào bản thân mình để nhận thấy những qui chuẩn căn bản của luật luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã in ấn nơi tâm can của chúng ta.
69. Cái thách đố của việc phát triển ngày nay liên hệ chặt chẽ với sự tiến bộ về kỹ thuật, với những ứng dụng cả thể của nó nơi ngành sinh vật học. Kỹ thuật – đáng được nhấn mạnh – là một thực tại sâu xa của con người, gắn liền với quyền tự động và tự do của con người. Qua kỹ thuật, chúng ta thể hiện và khẳng định quyền lãnh đạo của tinh thần trên vật chất. “Tinh thần của con người, ‘càng ngày càng thoát khỏi tình trạng nô lệ của mình nơi các tạo vật, có thể dễ dàng vươn tới việc tôn thờ và chiêm ngưỡng Đấng Hóa Công’” [150]. Kỹ thuật giúp chúng ta có thể thực thi quyền thống trị trên vật chất, giảm bớt những nguy cơ, đỡ vất vả khó nhọc, cải tiến những điều kiện sống của chúng ta. Nó chạm tới cốt lõi ơn gọi lao động của con người: nơi kỹ thuật, được thấy như là sản phẩm thiên tài của mình, con người nhận ra bản thân mình và khuôn đúc nhân tính của mình. Kỹ thuật là phần khách quan của hành động con người [151], một hành động có nguồn gốc và nguyên do nơi yếu tổ chủ quan đó là chính con người làm việc. Vì thế, kỹ thuật không bao giờ chỉ là kỹ thuật. Nó tỏ hiện con người cùng với các ước vọng của con người đối với việc phát triển, nó cho thấy cái căng thẳng nội tại thôi thúc họ từ từ thắng vượt những giới hạn của vật chất. Kỹ thuật, theo chiều hướng này, là một thứ đáp ứng mệnh lệnh của Thiên Chúa trong việc canh tác và gìn giữ đất đai (cf Gen 2:15) là những gì Ngài đã trao phó cho nhân loại, và nó cần phải giúp vào việc củng cố giao ước giữa nhân loại và môi trường, một giao ước cần phải phản ảnh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.
70. Việc phát triển về kỹ thuật có thể làm nẩy lên ý nghĩ kỹ thuật là những gì tự mãn khi chú trọng quá nhiều tới những vấn đề “cách nào” mà không chú trọng đủ tới các vấn đề “tại sao” nơi hoạt động của con người. Vì thế, kỹ thuật có thể trở thành vừa đáng yêu lại đáng ghét. Được tạo nên nhờ óc sáng tạo của con người như là một dụng cụ của quyền tự do con người, kỹ thuật có thể được hiểu như là một thứ biểu lộ cái quyền tự do tuyệt đối, thứ quyền tự do tìm cách gạt ra ngoài những giới hạn vốn có nơi các sự vật. Tiến trình của việc toàn cầu hóa có thể thay thế những ý hệ bằng kỹ thuật [152], khi để cho kỹ thuật trở thành một thứ quyền năng của ý hệ có thể giam giữ chúng ta trong một tiền thức ghì chúng ta lại không cho đối đầu với hữu thể và chân lý. Nếu xầy ra như thế, tất cả chúng ta đều hiểu biết, thẩm định và quyết định về những hoàn cảnh sống của chúng ta từ bên trong một viễn tượng về văn hóa nặng về kỹ thuật mà chúng ta thuộc về một cách đóng khung, không thể khám phá ra một thứ ý nghĩa không từ chúng ta mà có. Thứ vũ trụ quan “về kỹ thuật” xuất phát từ nhãn quan ấy giờ đây trở nên quá chủ yếu tới độ sự thật tiến đến chỗ được thấy như trùng hợp với cái khả thể. Thế nhưng, khi mà qui chuẩn duy nhất của chân lý là tính cách hiệu năng và thực dụng thì việc phát triển tự động bị chối bỏ. Việc phát triển thực sự chính yếu không phải ở chỗ “làm”. Cái then chốt cho việc phát triển là một trí khôn có thể nghĩ bằng những kiểu cách kỹ thuật và nắm bắt được tất cả ý nghĩa nhân bản của các hoạt động con người, trong phạm vi của thứ ý nghĩa toàn diện về hữu thể của cá nhân con người. Ngay cả khi chúng ta làm việc qua những thứ vệ tinh hay qua những viễn lực điện tử, thì các hoạt động của chúng ta bao giờ cũng vẫn là hành động con người, một thứ thể hiện quyền tự do hữu trách của chúng ta. Kỹ thuật là những gì có sức thu hút cao vì nó kéo chúng ta ra khỏi những giới hạn thể lý của chúng ta và nới rộng chân trời của chúng ta. Thế nhưng, tự do của con người đích thực chỉ khi nào nó đáp ứng với tính cách lạ lùng của kỹ thuật bằng những quyết định là hoa trái của trách nhiệm luân lý. Vì thế, rất cần phải được huấn luyện về việc sử dụng kỹ thuật một cách hữu trách theo đạo lý. Chúng ta cần phải lấy lại ý nghĩa đích thực của tự do vượt ra ngoài tính chất mê hoặc gây ra bởi kỹ thuật, thứ tự do không phải là một loại quay cuồng với việc hoàn toàn tự động mà là một thứ đáp ứng tiếng gọi hiện hữu, được bắt đầu từ nơi hữu thể riêng của chúng ta.
71. Sự lệch lạc khỏi các nguyên tắc nhân bản vững chắc này mà một quan niệm về kỹ thuật có thể sản xuất ra ngày nay được thấy ở một số những áp dụng về kỹ thuật trong các lãnh vực về phát triển và hòa bình. Việc phát triển của các dân tộc thường được coi như là một vấn đề về việc điều hành tiền tệ, việc tự do cạnh tranh thị trường, việc loại trừ đi các thứ thuế nhập khẩu, việc đầu tư vào vấn đề sản xuất, và những thứ canh tân về cơ cấu tổ chức – tắt một lời là một vấn đề thuần về kỹ thuật. Tất cả những điều ấy đều rất quan trọng, thế nhưng chúng ta phải hỏi rằng tại sao những chọn lựa về kỹ thuật đã diễn tiến như thế mà lại thu gặt được những thành quả pha trộn. Chúng ta cần nghĩ kỹ hơn về căn nguyên của nó. Vấn đề phát triển sẽ không bao giờ hoàn toàn được bảo đảm bằng các năng lực tự động hay vô ngã, dù những năng lực này xuất phát từ thị trường hay từ chính trị quốc tế. Không thể nào có vấn đề phát triển nếu thiếu những con người nam nữ chính trực ngay thẳng, thiếu những nhà tài chính và các chính trị gia có lương tâm hướng chiều theo những đòi hỏi của công ích. Cả khả năng chuyên nghiệp lẫn tính chất nhất trí về luân lý đều cần thiết. Khi kỹ thuật được dịp qua mặt thì hậu quả sẽ là tình trạng lẫn lộn giữa cùng đích và phương tiện, tới độ qui chuẩn duy nhất để tác hành nơi vấn đề thương mại được nghĩ là làm sao gia tăng tối đa lợi lộc, nơi chính trị là vấn đề củng cố quyền lực, và nơi khoa học là vấn đề thực hiện các việc tìm kiếm nghiên cứu. Bên dưới những thứ rối rít của các thứ tương liên về kinh tế, tài chính và chính trị, thường vẫn còn những thứ hiểu lầm, khó nhọc và bất công. Trào lưu về thứ kỹ thuật cách thức biết làm đang gia tăng, thế nhưng chính những ai sở hữu nó mới được lợi, trong khi đó, tình trạng của những dân tộc đang sống trong bóng tối của thứ kỹ thuật này vẫn không có gì đổi thay: vì họ ít có cơ hội giải phóng.
72. Thậm chí ngay cả hòa bình cũng có thể bị coi như là một sản phẩm về kỹ thuật, chỉ là thành quả của những thỏa thuận giữa các chính quyền hay của những khởi động nhắm tới việc bảo đảm cho vấn đề viện trợ kinh tế tốt đẹp. Thật sự thì việc xây dựng hòa bình đòi phải liên lỉ tương tác về những liên hệ ngoại giao, về những trao đổi kinh tế, kỹ thuật và văn hóa, về những thỏa ước cho những dự phóng chung, cũng như về những sách lược chung trong việc kiềm chế mối đe dọa của tình trạng xung đột về quân sự và trong việc loại trừ đi những nguyên nhân sâu xa của nạn khủng bố. Tuy nhiên, để cho những nỗ lực như thế có những tác dụng lâu dài, chúng cần phải dựa trên những giá trị được bắt nguồn từ sự thật về đời sống của con người. Tức là, tiếng nói của các dân tộc bị ảnh hưởng cần phải được lắng nghe và các tình trạng của họ cần phải được quan tâm tới, nếu những niềm mong đợi của họ được hiểu một cách đúng đắn. Người ta có thể nói cần phải nương theo với những nỗ lực không ai biết tới của rất nhiều cá nhân hết sức dấn thân để kéo các dân tộc lại với nhau cũng như để làm cho dễ dàng hơn việc phát triển có nền tảng yêu thương và tương kiến. Trong số thành phần dấn thân này có các phần tử của tín hữu Kitô giáo, thành phần đã tham gia vào công việc cao cả này để bảo tồn chiều kích trọn vẹn nhân bản của vấn đề phát triển và hòa bình.
73. Liên hệ tới vấn đề phát triển về kỹ thuật là sự hiện diện tràn lan mỗi ngày một gia tăng của các phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay hầu như không thể nào tưởng tượng nổi đời sống của gia đình nhân loại mà lại thiếu chúng. Dù lợi hơn hay hại hơn, chúng cũng trở thành một yếu tố của cuộc sống ngày nay đến nỗi thật là ngu xuẩn để chủ trương rằng chúng là những gì trung dung – và vì thế không bị chi phối bởi các quan tâm về luân lý liên quan tới dân chúng. Những cái nhìn nhấn mạnh tới bản chất hết sức kỹ thuật của truyền thông đại chúng như thế thường hiệu nghiệm phụ giúp cho các lợi lộc kinh tế muốn làm chủ thị trường, mà còn cho cả những nỗ lực áp đặt những kiểu mẫu văn hóa phục vụ cho những hoạt động ý hệ và chính trị. Nếu tầm quan trọng nồng cốt của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng đang tìm cánh thay đổi về thái độ đối với thực tại và con người, thì chúng ta cần phải cẩn thận suy nghĩ tới ảnh hưởng của chúng, nhất là liên quan tới chiều kích văn hóa đạo lý của việc toàn cầu hóa cũng như của việc phát triển chư dân trong tình đoàn kết. Việc phản ảnh những gì cần phải có một đường lối có tính cách đạo lý cho vấn đề toàn cầu hóa và phát triển mà cả ý nghĩa lẫn mục đích của vấn đề phương tiện truyền thông đại chúng cần phải được tìm kiếm trong một viễn tượng về nhân loại học. Điều này có nghĩa là chúng có thể có một tác dụng văn minh hóa chẳng những chỉ khi nào, nhờ việc phát triển về kỹ thuật, chúng gia tăng những cơ hội truyền đạt tín liệu, nhưng trên hết khi chúng hướng tới một nhãn quan về con người và công ích phản ảnh những giá trị phổ quát thực sự. Chỉ vì những việc truyền đạt về xã hội làm gia tăng các cơ hội của việc tương liên và truyền bá các tư tưởng mà lại không có vấn đề chúng cổ võ tự do hay quốc tế hóa vấn đề phát triển và nền dân chủ cho tất cả mọi người. Để đạt được các mục đích thuộc loại này, chúng cần nhắm tới việc cổ võ phẩm giá của con người và của các dân tộc, chúng cần phải được minh nhiên tác động bởi bác ái và phục vụ chân lý, sự thiện cũng như tình huynh dệ tự nhiên cũng như siêu nhiên. Thật vậy, tự do của con người là những gì tự bản chất gắn liền với những giá trị cao cả này. Phương tiện truyền thông đại chúng có thể thực hiện việc đóng góp quan trọng cho việc gia tăng mối hiệp thông của gia đình nhân loại cũng như nét đặc trưng của xã hội khi chúng được sử dụng để cổ võ việc tham dự toàn cầu vào việc tìm kiếm chung cho những gì là chính đáng.
74. Một trận chiến quyết liệt đặc biệt trong cuộc đối chọi về văn hóa ngày nay giữa vai trò chủ chốt của kỹ thuật và trách nhiệm luân lý của con người đó là lãnh vực đạo lý sinh học, một lãnh vực mà chính cơ hội của việc phát triển toàn vẹn con người đang gặp trục trặc trầm trọng. Ở lãnh vực rất tế nhị và nguy kịch này, vấn đề nồng cốt rõ ràng hiện lên cho thấy là phải chăng con người là sản phẩm bởi công khó của họ hay họ lệ thuộc vào Thiên Chúa? Những khám phá khoa học nơi lãnh vực này và những cơ hội của việc phát minh kỹ thuật dường như rất thuận lợi để bắt phải chọn lựa giữa hai loại luận lý: một là lý lẽ hướng về siêu việt thể hai là lý lẽ khép kín ở nội tại. Chúng ta được trình bày với một thứ chọn lựa rõ ràng là chẳng này cũng không nọ. Tuy nhiên, cái lý lẽ của một thứ sử dụng kỹ thuật qui ngã cho thấy là những gì phi lý vì nó bao hàm một thứ dứt khoát loại trừ đi ý nghĩa và giá trị. Không phải là trùng hợp nơi việc khép mình trước siêu việt thể khiến con người không tránh khỏi phải đối diện với một vấn đề khó khăn, đó là, vấn đề làm thế nào lại xẩy ra chuyện hiện hữu xuất phát từ vô hữu, làm thế nào lý trí lại xuất phát từ ngẫu nhiên tình cờ chứ? [153] Đối diện với những vấn đề khốc liệt này, lý trí và đức tin có thể trợ giúp lẫn nhau. Chỉ khi nào cùng nhau chúng mới có thể cứu được con người. Được dẫn nhập bằng một thứ cậy dựa hoàn toàn vào kỹ thuật, lý tri phi đức tin bị chới với trong một ảo tưởng về quyền toàn năng của mình. Đức tin phi lý trí có cơ nguy bị tách ra khỏi cuộc sống thường nhật [154].
75. Đức Phaolô VI đã nhận thấy và kéo chú ý tới chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội này [155]. Theo bước đường của ngài, ngày nay chúng ta cần khẳng định rằng vấn đề xã hội này đã trở thành một vấn đề hoàn toàn về nhân loại học, ở chỗ là nó quan tâm chẳng những sự sống được thụ thai ra sao mà còn nó bị mạo dụng thế nào, khi kỹ thuật sinh học càng ngày càng đặt nó ở dưới quyền kiểm soát của con người. Việc thụ thai trong ống nghiệm, việc nghiên cứu phôi thai bào, tiềm năng chế tạo các thứ tạo sinh sao bản và lai giống con người: tất cả những điều này giờ đây đang vươn lên và đang được cổ võ nơi thứ văn hóa hết sức vỡ mộng ngày nay, thứ văn hóa tin rằng nó từng làm chủ hết mọi nhiệm mầu, vì nguồn gốc của sự sống hiện nay ở trong tay chúng ta. Ở đây chúng ta thấy cái bộc lộ tỏ tường nhất về tính chất chủ chốt của kỹ thuật. Trong thứ văn hóa này, lương tâm chỉ được mời gọi để ghi nhận những khả năng của kỹ thuật. Tuy nhiên, chúng ta không được coi thường đặt nhẹ những viễn tượng đáng ngại đang đe dọa tương lai của chúng ta, hay những dụng cụ mãnh liệt mới mẻ đang ở trong tay của “nền văn hóa sự chết”. Chúng ta trong tương lai rất có thể phải thêm vào nạn phá thai thê thảm và tràn lan hiện nay chương trình cải giống có phương pháp của việc sinh sản – mà thật sự nó đang hiện diện một cách rụt rè lén lút. Thêm vào đó, một tâm thức ủng hộ vấn đề triệt sinh an tử đang tìm cách xâm nhập như một thứ chủ trương tàn phá không kém của việc kiểm soát sự sống ở trong một số trường hợp dường như không đáng sống nữa. Nằm ở bên dưới những viễn cảnh này là các quan điểm về văn hóa chối bỏ phẩm giá của con người. Những việc thực hành này lại nuôi dưỡng một thứ kiến thức duy vật và máy móc về sự sống con người. Ai có thể đo lường được những tác dụng tiêu cực của loại tâm thức về phát triển này? Làm sao chúng ta lại ngỡ ngàng trước cái lãnh đạm dửng dưng tỏ ra đối với những tình trạng hạ giá con người, khi việc dửng dưng lạnh lùng này bao gồm thậm chí cả thái độ của chúng ta đối với những gì con người là hay không là? Kinh hoàng biết bao cho cái chuyên chế và quyết định chọn lựa về những gì ngày nay cổ võ như đáng tôn trọng? Những vấn đề tầm thường được coi là ghê tởm, thế mà những thứ bất công chưa từng có dường như được nhân nhượng một cách rộng rãi. Trong khi người nghèo trên thế giới tiếp tục gõ cửa người giầu, thì thế giới thịnh vượng lại có nguy cơ không còn nghe thấy những tiếng gõ cửa ấy, vị một lương tâm không còn phân biệt được những gì là con người nữa. Thiên Chúa tỏ cho con người biết bản thân họ, lý trí và đức tin sát cánh hoạt động để tỏ cho chúng ta thấy những gì là thiện hảo, nếu chúng ta muốn thấy nó; lề luật tự nhiên, trong đó Lý Trí sáng tạo chiếu giãi, tỏ cho thấy cái cao cả của chúng ta, mà còn cả cái yếu hèn của chúng ta nữa, vì chúng ta không nhận ra tiếng gọi sống sự thật luân lý.
76. Một khía cạnh của tâm thức về kỹ thuật hiện đại đó là khuynh hướng coi những vấn đề và những cảm xúc của đời sống nội tâm từ quan điểm thuần tâm lý, thậm chí cho tới quan điểm suy yếu về thần kinh. Như thế thì nội tâm của con người bị mất đi hết ý nghĩa của nó và từ từ chúng ta không còn nhận thức được chiều sâu bản thể của linh hồn con người bị mất đi như được các thánh nhân cảm nghiệm. Vấn đề phát triển được liên kết chặt chẽ với việc chúng ta hiểu biết về linh hồn con người, vì chúng ta thường giảm thiểu bản thân thành tâm thần và lẫn lộn sinh lực của linh hồn với tình trạng lành mạnh về cảm xúc. Những thứ đơn giản hóa thái quá này xuất phát từ một tình trạng hoàn toàn không hiểu gì về đời sống tâm linh, và chúng làm lu mờ đi sự kiện là việc phát triển của các cá nhân con người và các dân tộc một phần lệ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề có tính chất thiêng liêng. Việc phát triển cần phải bao gồm chẳng những tình trạng tăng trưởng về vật chất mà còn về tinh thần nữa, vì con người là một “hiệp nhất của thân thể và linh hồn” [156], xuất phát từ tình yêu thương sáng tạo của Thiên Chúa và để cho sự sống đời đời. Nhân loại phát triển khi họ tăng trưởng về tinh thần, khi linh hồn họ tiến đến chỗ biết mình cùng với các sự thật được Thiên Chúa vun trồng sâu xa bên trong, khi họ đối thoại với chính mình và với Đấng Hóa Công của họ. Khi ở xa cách Thiên Chúa, con người sống bất ổn và dễ trở nên bệnh hoạn. Bệnh tâm thần về xã hội và tâm lý cùng nhiều chứng loạn chức năng thần kinh đang gây khốn đốn cho các xã hội thịnh vượng được qui một phần cho các yếu tố tâm linh. Một xã hội giầu thịnh, phát triển cao về những thứ vật chất nhưng lại đè nặng trên linh hồn, tự nó không dẫn tới việc phát triển đích thực. Những hình thức nô lệ mới cho thuốc phiện và thiếu thốn niềm hy vọng nơi nhiều người có thể được hiểu chẳng những theo những khía cạnh về xã hội học và tâm lý học mà còn thiết yếu theo những khía cạnh về tâm linh nữa. Tình trạng trống rỗng khiến linh hồn cảm thấy mình bị bỏ rơi, bất chấp việc sẵn có vô khối những thứ trị liệu cho thân xác và tâm thần, dẫn đến tình trạng khổ đau. Không thể nào có vấn đề hoàn toàn phát triển và công ích phổ quát trừ phi tình trạng phúc hạnh về tâm linh và luân lý được chú trọng, toàn thể con người gồm thân xác và linh hồn họ được lưu tâm.
77. Cái thế thượng phong của kỹ thuật có khuynh hướng làm con người bị trở ngại trong việc nhìn thấy bất cứ những gì không thể giải thích được theo nguyên chất thể. Tuy nhiên, hết mọi người đều cảm nghiệm thấy nhiều chiều kích phi chất thể và linh thiêng trong đời sống. Biết không phải chỉ là một tác động về thể chất, vì đối tượng được biết đến bao giờ cũng che giấu một cái gì đó ở ngoài tầm vóc của kinh nghiệm. Tất cả kiến thức của chúng ta, thậm chí là thứ kiến thức đơn giản nhất, bao giờ cũng là một phép lạ nho nhỏ, vì nó không bao giờ hoàn toàn giải thích được nơi những dụng cụ về thể chất được chúng ta áp dụng vào nó. Ở nơi hết mọi sự thật có một cái gì đó còn hơn là những gì chúng ta trông đợi, trong yêu thương chúng ta lãnh nhận bao giờ cũng có một yếu tố làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Chúng ta không bao giờ thôi cảm thấy lạ lùng trước những điều ấy. Nơi tất cả mọi kiến thức cũng như nơi hết mọi tác động yêu thương, linh hồn con người đều cảm nghiệm thấy một cái gì đó “vượt trên và ở trên”, một cái thật là giống như một tặng ân chúng ta lãnh nhận, hay một cao điểm chúng ta được nâng lên. Việc phát triển của các cá nhân và của các dân tộc cũng thế được đặt ở một cao độ, nếu chúng ta coi chiều kích thiêng liêng là những gì cần phải hiện diện cho việc phát triển trở thành chân thực. Nó đòi phải có những cặp mắt mới và một con tim mới, có khả năng vượt lên trên một thứ nhãn quan duy vật về các biến cố của con người, có khả năng thoáng thấy nơi việc phát triển “cái ngoại biên” không thể cống hiến bởi kỹ thuật. Nhờ theo đuổi đường lối này mới có thể thực hiện việc phát triển toàn vẹn con người theo chiều hướng thúc đẩy của bác ái trong chân lý.
78. Không có Thiên Chúa, con người đâu mà đi, thậm chí hiểu mình là ai nữa. Trước những vấn đề lớn lao to tát đang bủa vây vấn đề phát triển của các dân tộc, một vấn đề hầu như làm cho chúng ta cảm thấy chán chường, chúng ta tìm thấy được niềm an ủi nơi những lời nói của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng dạy chúng ta rằng: “Không có Thày các con không làm gì nổi” (Jn 15:5) sau đó Người phấn khích chúng ta rằng: “Thày luôn ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28:20). Khi chúng ta thấy được vô vàn công việc cần phải thực hiện, chúng ta cảm thấy vững tin rằng Thiên Chúa là Đấng hiện diện với những ai qui tụ lại nhân danh Người để hoạt động cho công lý. Đức Phaolô VI đã nhắc nhở trong Thông Điệp Việc Phát Triển của Các Dân Tộc rằng con người không thể chiếm đạt được tiến bộ nếu không được trợ giúp, vì tự mình con người không thể xây dựng một nền nhân bản chân thực. Chỉ khi nào chúng ta nhận thức được ơn gọi của mình, với tư cách là cá nhân và là một cộng đồng, thuộc về gia đình của Thiên Chúa như là thành phần con cái nam nữ của Ngài, chúng ta mới có thể lan truyền một nhãn quan mới và lấy được một nghị lực mới trong việc phục vụ cho một nền nhân bản toàn vẹn thực sự. Bởi thế, việc phục vụ cao cả nhất cho vấn đề phát triển đó là một nền nhân bản Kitô giáo [157], một nền nhân bản làm bừng lên bác ái và xuất phát từ sự thật, chấp nhận cả hai như tặng ân vững bền của Thiên Chúa. Việc cởi mở cho Thiên Chúa làm cho chúng ta hướng về anh chị em của chúng ta và hướng đến một kiến thức về sự sống như là một công việc hân hoan cần phải được hoàn thành trong tinh thần đoàn kết. Ngoài ra, việc phủ nhận Thiên Chúa theo ý hệ và một chủ nghĩa vô thần của sự dửng dưng, lãng quên Đấng Hóa Công và có cơ nguy cũng tiến đến chỗ lãng quên các thứ giá trị nhân bản, là những gì tạo nên một số những chướng ngại chính cho vấn đề phát triển ngày nay. Một nền nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một nền nhân bản phi nhân bản. Chỉ có nền nhân bản nào hướng về Tuyệt Đối Thể mới có thể hướng dẫn chúng ta trong việc cổ võ và xây dựng những hình thức của đời sống xã hội và dân sự – các cơ cấu, tổ chức, văn hóa và đặc trưng – mà không làm cho chúng ta có cơ nguy bị rơi vào cạm bẫyc của những kiểu cách một thời. Việc nhận thức tình yêu bất tử của Thiên Chúa là những gì nâng đỡ chúng ta trong công việc khó nhọc và thôi thúc của chúng ta cho công lý cũng như cho việc phát triển của các dân tộc, giữa các thành đạt và thất bại, để không ngừng theo đuổi một thứ trật tự chính đáng nơi các sự vụ của con người. Tình yêu của Thiên Chúa kêu gọi chúng ta hãy vượt ra ngoài những gì là hạn hữu và phù du, nó cống hiến cho chúng ta lòng can đảm để tiếp tục tìm kiếm và hoạt động cho lợi ích của tất cả mọi người, thậm chí cho dù nó không thể chiếm đạt tức thời và cho dù những gì chúng ta có thể chiếm đạt, cùng với các thẩm quyền chính trị cùng những thẩm quyền nơi lãnh vực kinh tế, bao giờ cũng kém hơn là điều chúng ta mong muốn [158]. Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu và để chịu đựng cho lòng yêu chuộng công ích, vì Ngài là Tất Cả của chúng ta, là niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta.
79. Vấn đề phát triển cần đến các Kitô hữu biết giơ tay lên nguyện cầu cùng Thiên Chúa, cần đến các Kitô hữu được tác động bởi ý thức rằng tình yêu tràn đầy chân lý, caritas in veritate, nơi xuất phát ra việc phát triển chân thực, không phải do chúng ta tạo ra mà là được ban cho chúng ta. Vì lý do ấy, ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất và phức tạp nhất, ngoài việc nhận thức thấy những gì đang xẩy ra, trước hết mọi sự chúng ta cần phải hướng về tình yêu của Thiên Chúa. Việc phát triển cần chú trọng tới đời sống thiêng liêng, một quan tâm nghiêm cẩn cho các cảm nghiệm của lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, của mối thân tình thiêng liêng với Chúa Kitô, của niềm tin cậy vào sự quan phòng và tình thương của Thiên Chúa, của tình yêu thương và lòng thứ tha, của việc bỏ mình, việc chấp nhận người khác, của công lý và hòa bình. Tất cả những điều này đều là những gì thiết yếu nếu “những con tim chai đá” được biến thành “các con tim bằng thịt” (Ezek 36:26), cống hiến “thần linh” cho đời sống ở trên trần gian này, nhờ đó nhân loại trở nên xứng đáng hơn. Tất cả những điều này bởi con người, vì con người là chủ thể cho việc hiện hữu của mình; và đồng thời cũng bởi Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là khởi điểm và là tận điểm của tất cả những gì là thiện hảo, tất cả những gì dẫn đến ơn cứu độ: “thế giới hay sự sống hoặc sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều của anh em và anh em là của Chúa Kitô và Chúa Kitô là của Thiên Chúa” (1Cor 3:22-23). Kitô hữu mong sao cho toàn thể gia đình nhân loại kêu cầu Thiên Chúa như “Cha chúng con!” Hiệp nhất với Người Con duy nhất, chớ gì tất cả mọi dân nước đều biết nguyện cầu cùng Cha và xin Ngài, theo những lời được chính Chúa Giêsu dạy chúng ta, về ân huệ được tôn vinh Ngài bằng cách sống theo ý muốn của Ngài, lãnh nhận được bánh chúng ta cần hằng ngày, thông cảm và quảng đại với những ai nợ nần của chúng ta, không bị thử thách quá sức và được cứu thoát cho khỏi sự dữ (cf. Mt 6:9-13).
Khi kết thúc Năm Thánh Phaolô, tôi hân hoan bày tỏ niềm hy vọng này nơi những lời của Vị Tông Đồ, được trích từ Thư Rôma: “Hãy yêu chuộng những gì chân thực, ghét những gì xấu xa, giữ lấy những gì thiện hảo, yêu thương nhau bằng tình huynh đệ; ganh đua tôn kính nhau” (Rm 12:9-10). Xin Trinh Nữ Maria – Vị được Đức Phaolô VI công bố là Mater Ecclesiae – Mẹ của Giáo Hội và được Kitô hữu tôn kính như là Speculum lustitiae and Regina Pacis – (Gương Soi Công Lý và Nữ Vương Hòa Bình) bảo vệ chúng ta và xin cho chúng ta, nhờ lời chuyển cầu thiên cung của Người, sức mạnh, niềm hy vọng và niềm vui cần thiết để tiếp tục quảng đại hiến thân cho công việc mang lại “việc phát triển toàn thể con người và tất cả mọi người” [159].
Tại Rôma, Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 29/6, Lễ Trọng Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, năm 2009, năm thứ năm của giáo triều tôi.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánhhttp://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/encyclicals/documents/hf_ben-xvi_enc_20090629_caritas-in-veritate_en.html
———————-
[1] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 22: AAS 59 (1967), 268; Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 69.
[2] Address for the Day of Development (23 August 1968): AAS 60 (1968), 626-627.
[3] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace: AAS 94 (2002), 132-140.
[4] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 26.
[5] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963): AAS 55 (1963), 268-270.
[6] Cf. no. 16: loc. cit., 265.
[7] Cf. ibid., 82: loc. cit., 297.
[8] Ibid., 42: loc. cit., 278.
[9] Ibid., 20: loc. cit., 267.
[10] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 36; Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4: AAS 63 (1971), 403-404; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 43: AAS 83 (1991), 847.
[11] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 13: loc. cit., 263-264.
[12] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 76.
[13] Cf. Benedict XVI, Address at the Inauguration of the Fifth General Conference of the Bishops of Latin America and the Caribbean (Aparecida, 13 May 2007).
[14] Cf. nos. 3-5: loc. cit., 258-260.
[15] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 6-7: AAS 80 (1988), 517-519.
[16] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 14: loc. cit., 264.
[17] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 18: AAS 98 (2006), 232.
[18] Ibid., 6: loc cit., 222.
[19] Cf. Benedict XVI, Christmas Address to the Roman Curia, 22 December 2005.
[20] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 3: loc. cit., 515.
[21] Cf. ibid., 1: loc. cit., 513-514.
[22] Cf. ibid., 3: loc. cit., 515.
[23] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 3: AAS 73 (1981), 583-584.
[24] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 3: loc. cit., 794-796.
[25] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 3: loc. cit., 258.
[26] Cf. ibid., 34: loc. cit., 274.
[27] Cf. nos. 8-9: AAS 60 (1968), 485-487; Benedict XVI, Address to the participants at the International Congress promoted by the Pontifical Lateran University on the fortieth anniversary of Paul VI’s Encyclical “Humanae Vitae”, 10 May 2008.
[28] Cf. Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 93: AAS 87 (1995), 507-508.
[29] Ibid., 101: loc. cit., 516-518.
[30] No. 29: AAS 68 (1976), 25.
[31] Ibid., 31: loc. cit., 26.
[32] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 41: loc. cit., 570-572.
[33] Cf. ibid.; Id., Encyclical Letter Centesimus Annus, 5, 54: loc. cit., 799, 859-860.
[34] No. 15: loc. cit., 265.
[35] Cf. ibid., 2: loc. cit., 258; Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891): Leonis XIII P.M. Acta, XI, Romae 1892, 97-144; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 8: loc. cit., 519-520; Id., Encyclical Letter Centesimus Annus, 5: loc. cit., 799.
[36] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 2, 13: loc. cit., 258, 263-264.
[37] Ibid., 42: loc. cit., 278.
[38] Ibid., 11: loc. cit., 262; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 25: loc. cit., 822-824.
[39] Encyclical Letter Populorum Progressio, 15: loc. cit., 265.
[40] Ibid., 3: loc. cit., 258.
[41] Ibid., 6: loc. cit., 260.
[42] Ibid., 14: loc. cit., 264.
[43] Ibid.; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 53-62: loc. cit., 859-867; Id., Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 13-14: AAS 71 (1979), 282-286.
[44] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 12: loc. cit., 262-263.
[45] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22.
[46] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 13: loc. cit., 263-264.
[47] Cf. Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[48] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 16: loc. cit., 265.
[49] Ibid.
[50] Benedict XVI, Address to young people at Barangaroo, Sydney, 17 July 2008.
[51] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 20: loc. cit., 267.
[52] Ibid., 66: loc. cit., 289-290.
[53] Ibid., 21: loc. cit., 267-268.
[54] Cf. nos. 3, 29, 32: loc. cit., 258, 272, 273.
[55] Cf. Encyclical Letter, Sollicitudo Rei Socialis, 28: loc. cit., 548-550.
[56] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 9: loc. cit., 261-262.
[57] Cf. Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 20: loc. cit., 536-537.
[58] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 22-29: loc. cit., 819-830.
[59] Cf. nos. 23, 33: loc. cit., 268-269, 273-274.
[60] Cf. loc. cit., 135.
[61] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 63.
[62] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 24: loc. cit., 821-822.
[63] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 33, 46, 51: AAS 85 (1993), 1160, 1169-1171, 1174-1175; Id., Address to the Assembly of the United Nations, 5 October 1995, 3.
[64] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 47: loc. cit., 280-281; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 42: loc. cit., 572-574.
[65] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Food Day: AAS 99 (2007), 933-935.
[66] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae, 18, 59, 63-64: loc. cit., 419-421, 467-468, 472-475.
[67] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 5.
[68] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace, 4-7, 12-15: AAS 94 (2002), 134-136, 138-140; Id., Message for the 2004 World Day of Peace, 8: AAS 96 (2004), 119; Id., Message for the 2005 World Day of Peace, 4: AAS 97 (2005), 177-178; Benedict XVI, Message for the 2006 World Day of Peace, 9-10: AAS 98 (2006), 60-61; Id., Message for the 2007 World Day of Peace, 5, 14: loc. cit., 778, 782-783.
[69] Cf. John Paul II, Message for the 2002 World Day of Peace, 6: loc. cit., 135; Benedict XVI, Message for the 2006 World Day of Peace, 9-10: loc. cit., 60-61.
[70] Cf. Benedict XVI, Homily at Mass, Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006.
[71] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 1: loc. cit., 217-218.
[72] John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 28: loc. cit., 548-550.
[73] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 19: loc. cit., 266-267.
[74] Ibid., 39: loc. cit., 276-277.
[75] Ibid., 75: loc. cit., 293-294.
[76] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 28: loc. cit., 238-240.
[77] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 59: loc. cit., 864.
[78] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 40, 85: loc. cit., 277, 298-299.
[79] Ibid., 13: loc. cit., 263-264.
[80] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 85: AAS 91 (1999), 72-73.
[81] Cf. ibid., 83: loc. cit., 70-71.
[82] Benedict XVI, Address at the University of Regensburg, 12 September 2006.
[83] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 33: loc. cit., 273-274.
[84] Cf. John Paul II, Message for the 2000 World Day of Peace, 15: AAS 92 (2000), 366.
[85] Catechism of the Catholic Church, 407; cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 25: loc. cit., 822-824.
[86] Cf. no. 17: AAS 99 (2007), 1000.
[87] Cf. ibid., 23: loc. cit., 1004-1005.
[88] Saint Augustine expounds this teaching in detail in his dialogue on free will (De libero arbitrio, II, 3, 8ff.). He indicates the existence within the human soul of an “internal sense”. This sense consists in an act that is fulfilled outside the normal functions of reason, an act that is not the result of reflection, but is almost instinctive, through which reason, realizing its transient and fallible nature, admits the existence of something eternal, higher than itself, something absolutely true and certain. The name that Saint Augustine gives to this interior truth is at times the name of God (Confessions X, 24, 35; XII, 25, 35; De libero arbitrio II, 3, 8), more often that of Christ (De magistro 11:38; Confessions VII, 18, 24; XI, 2, 4).
[89] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, 3: loc. cit., 219.
[90] Cf. no. 49: loc. cit., 281.
[91] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 28: loc. cit., 827-828.
[92] Cf. no. 35: loc. cit., 836-838.
[93] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 38: loc. cit., 565-566.
[94] No. 44: loc. cit., 279.
[95] Cf. ibid., 24: loc. cit., 269.
[96] Cf. Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[97] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 24: loc. cit., 269.
[98] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 32: loc. cit., 832-833; Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 25: loc. cit., 269-270.
[99] John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 24: loc. cit., 637-638.
[100] Ibid., 15: loc. cit., 616-618.
[101] Encyclical Letter Populorum Progressio, 27: loc. cit., 271.
[102] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1987), 74: AAS 79 (1987), 587.
[103] Cf. John Paul II, Interview published in the Catholic daily newspaper La Croix, 20 August 1997.
[104] John Paul II, Address to the Pontifical Academy of Social Sciences, 27 April 2001.
[105] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 17: loc. cit., 265-266.
[106] Cf. John Paul II, Message for the 2003 World Day of Peace, 5: AAS 95 (2003), 343.
[107] Cf. ibid.
[108] Cf. Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 13: loc. cit., 781-782.
[109] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 65: loc. cit., 289.
[110] Cf. ibid., 36-37: loc. cit., 275-276.
[111] Cf. ibid., 37: loc. cit., 275-276.
[112] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Apostolate of Lay People Apostolicam Actuositatem, 11.
[113] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 14: loc. cit., 264; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 32: loc. cit., 832-833.
[114] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 77: loc. cit., 295.
[115] John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 6: AAS 82 (1990), 150.
[116] Heraclitus of Ephesus (Ephesus, c. 535 B.C. – c. 475 B.C.), Fragment 22B124, in H. Diels and W. Kranz, Die Fragmente der Vorsokratiker, Weidmann, Berlin, 1952, 6(th) ed.
[117] Pontifical Council for Justice And Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 451-487.
[118] Cf. John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 10: loc. cit., 152-153.
[119] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 65: loc. cit., 289.
[120] Benedict XVI, Message for the 2008 World Day of Peace, 7: AAS 100 (2008), 41.
[121] Cf. Benedict XVI, Address to the General Assembly of the United Nations Organization, New York, 18 April 2008.
[122] Cf. John Paul II, Message for the 1990 World Day of Peace, 13: loc. cit., 154-155.
[123] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[124] Ibid., 38: loc. cit., 840-841; Benedict XVI, Message for the 2007 World Day of Peace, 8: loc. cit., 779.
[125] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 41: loc. cit., 843-845.
[126] Cf. ibid.
[127] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae, 20: loc. cit., 422-424.
[128] Encyclical Letter Populorum Progressio, 85: loc. cit., 298-299.
[129] Cf. John Paul II, Message for the 1998 World Day of Peace, 3: AAS 90 (1998), 150; Address to the Members of the Vatican Foundation “Centesimus Annus – Pro Pontifice”, 9 May 1998, 2; Address to the Civil Authorities and Diplomatic Corps of Austria, 20 June 1998, 8; Message to the Catholic University of the Sacred Heart, 5 May 2000, 6.
[130] According to Saint Thomas “ratio partis contrariatur rationi personae”, In III Sent., d. 5, q. 3, a. 2; also “Homo non ordinatur ad communitatem politicam secundum se totum et secundum omnia sua”, Summa Theologiae I-II, q. 21, a. 4, ad 3.
[131] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 1.
[132] Cf. John Paul II, Address to the Sixth Public Session of the Pontifical Academies of Theology and of Saint Thomas Aquinas, 8 November 2001, 3.
[133] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Declaration on the Unicity and Salvific Universality of Jesus Christ and the Church Dominus Iesus (6 August 2000), 22: AAS 92 (2000), 763-764; Id., Doctrinal Note on some questions regarding the participation of Catholics in political life (24 November 2002), 8: AAS 96 (2004), 369-370.
[134] Benedict XVI, Encyclical Letter Spe Salvi, 31: loc. cit., 1010; Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[135] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 5: loc. cit., 798-800; Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006.
[136] No. 12.
[137] Cf. Pius XI, Encyclical Letter Quadragesimo Anno (15 May 1931): AAS 23 (1931), 203; John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 48: loc. cit., 852-854; Catechism of the Catholic Church, 1883.
[138] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris, loc. cit., 274.
[139] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 10, 41: loc. cit., 262, 277-278.
[140] Cf. Benedict XVI, Address to Members of the International Theological Commission, 5 October 2007; Address to the Participants in the International Congress on Natural Moral Law, 12 February 2007.
[141] Cf. Benedict XVI, Address to the Bishops of Thailand on their “Ad Limina” Visit, 16 May 2008.
[142] Cf. Pontifical Council for the Pastoral Care of Migrants and Itinerant People, Instruction Erga Migrantes Caritas Christi (3 May 2004): AAS 96 (2004), 762-822.
[143] John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 8: loc. cit., 594-598.
[144] Jubilee of Workers, Greeting after Mass, 1 May 2000.
[145] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus, 36: loc. cit., 838-840.
[146] Cf. Benedict XVI, Address to the Members of the General Assembly of the United Nations Organization, New York, 18 April 2008.
[147] Cf. John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris, loc. cit., 293; Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 441.
[148] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World, Gaudium et Spes, 82.
[149] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 43: loc. cit., 574-575.
[150] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 41: loc. cit., 277-278; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 57.
[151] Cf. John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, 5: loc. cit., 586-589.
[152] Cf. Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens, 29: loc. cit., 420.
[153] Cf. Benedict XVI, Address to the Participants in the Fourth National Congress of the Church in Italy, Verona, 19 October 2006; Id., Homily at Mass, Islinger Feld, Regensburg, 12 September 2006.
[154] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on certain bioethical questions Dignitas Personae (8 September 2008): AAS 100 (2008), 858-887.
[155] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio, 3: loc. cit., 258.
[156] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 14.
[157] Cf. Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 42: loc. cit., 278.
[158] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Spe Salvi, 35: loc. cit., 1013-1014.
[159] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio, 42: loc. cit., 278.
Nguồn: thoidiemmaria.net
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét